NHỮNG CHUYỆN CAN ĐẢM CỔ KIM

0
33

I_Trong dòng sử của Việt Nam, có nhiều bậc anh hùng. Mỗi người can đảm một cách.
Trước khi có chế độ CS, ngay ở bậc tiểu học, các học sinh, đã được học về sự can đảm của Danh Tướng Trần Bình Trọng, khi bị lọt vào tay giặc, đã cư xử ra sao.
Năm 1284, Nhà Nguyên cử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm lấn nước ta. Trần Bình Trọng là một danh tướng nhà Trần, đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc vào tháng giêng 1285. Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan cố thuyết phục Ông đầu hàng nhà Nguyên, và hứa là Ông sẽ được vua Nguyên Hốt Tất Liệt phong Vương.
Ông can đảm trả lời ngay: “Ta thà làm quỷ Nước Nam, chứ không thèm làm vương Đất Bắc”.
Thất bại trong việc muốn thu phục một tướng giỏi, giặc Nguyên bèn hành quyết Ông. Khi đó,Trần Bình Trọng mới 26 tuổi.
Trong sử Tầu, Kinh Kha, một kiếm sĩ can đảm đi tìm cách giết ông vua Tần cực kỳ tàn ác.
Kinh Kha, người nước Vệ, sau sang nước Yên, ham đọc sách, đánh gươm. Thái Tử nước Yên là Điền Đan cử Kinh Kha cầm bản đồ đất Đốc Cang, sang dâng vua Tần, để có thể đến gần mà hành thích. Vua Tần tiếp sứ giả, bảo: “Đưa địa đồ lên đây!”
Kinh Kha dâng lên. Vua Tần liền giở địa đồ. Đến cuối địa đồ, trật ra con dao chủy thủ của Kinh Kha đã dấu sẵn trong đó. Kha liền tay trái nắm áo vua Tần, tay phải cầm chủy thủ chĩa vào. Chưa chạm tới mình, vua Tần hoảng, giằng ra vùng đứng dậy. Tay áo đứt, rút gươm. Gươm dài và chặt, không sao rút được ngay. Kinh Kha đuổi vua Tần, chạy vùng quanh cột. Sau vua Tần rút được gươm ra, chặt đứt được đùi bên trái của Kha. Kinh Kha què, cầm con chủy thủ ném. Không trúng, cắm vào cột. Vua Tần lại đâm Kha.
Kha bị tám vết chém, tự biết việc không xong, tựa cột mà cười, ngồi xếp bằng tự mắng mình rằng:
“Việc sở dĩ không xong, chỉ tại muốn bắt sống, lấy được giấy cam đoan về, để trả lời Thái Tử.”
Can đảm gốc từ chữ Hán. Can là lá gan, đảm là túi mật.
Nói theo cách của quần chúng, người can đảm được kể là to gan lớn mật.
Tại sao lại nói là to gan lớn mật? Chữ to gan, không rõ điển tích. Nhưng lớn mật, do một khám phá ngẫu nhiên liên quan đến một nhân vật thời Tam quốc là Khương Duy.
Khương Duy văn võ toàn tài, đa mưu túc trí, bị bệnh tim kinh niên. Phò Hán, vừa làm quân-sư, vừa làm tướng. Can đảm vô cùng. Các tướng Ngụy rất kinh sợ mỗi khi phải đối trận với Ông. Nếu không chết dưới ngọn kích của Khương Duy, thì cũng bị hãm vào tử địa bởi mưu trí của Ông. Gặp những lúc phải rút quân, Khương Duy luôn luôn cầm kích, tự mình đi đoạn hậu.
Khi vận nhà Hán đã hết, quân Ngụy từ bốn phương tám hướng, dồn vào Thành Đô như ong vỡ tổ.
Bấy giờ Khương Duy một mình tuốt gươm cầm tay, tả xung hữu đột trên điện. Các tướng Ngụy sợ, không ai dám tới gần. Đúng lúc đó, Duy bị cơn đau tim tái phát. Đau xé lồng ngực.
Duy ngửa mặt lên trời, thét lớn rồi cầm gươm tự đâm cổ mà chết.
Quân sĩ, tướng tá Ngụy đều căm hờn Khương Duy vô hạn. Bấy giờ họ tranh nhau mổ bụng Duy để trả thù, thì thấy quả mật của Duy lớn bằng quả trứng gà.
II_Trong cuộc chiến bảo vệ Tự Do cho Miền Nam, những gương can đảm của các quân nhân rất nhiều, từ hàng binh sĩ lên đến cấp sĩ quan, trong mọi quân, binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Sau mỗi trận đánh, thành tích của họ thường được ghi lại bằng cách tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh, với 4 cấp từ thấp lên cao là: với Ngôi Sao Đồng, với Ngôi Sao Bạc, rồi tới với Ngôi Sao Vàng, và cao nhất là với Nhành Dương Liễu.
Hoàn cảnh và tình thế thay đổi tùy thời, tùy chỗ, nhưng lòng can đảm, tựu trung vẫn phát xuất từ một cái ý là coi cái chết “nhẹ như hồng mao”.
Sự can đảm có thể bộc phát trong khoảng một thời gian ngắn, kéo dài vài tiếng đồng hồ, liên tục trong nhiều năm, hay trường kỳ một, hai thập kỷ. Xin mời xem vài trường hợp tiêu biểu.
1- Bác Sĩ Lê Thành Ý.
Trong cuốn Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, xuất bản năm 2000, có bài tường thuật về trường hợp Bác sĩ Lê Thành Ý thuộc Biệt Kích Dù, đã mổ lấy ra một quả lựu đạn M79 nơi bắp chân của một binh sĩ .
Một binh sĩ người Thượng, còn trẻ, bị lãnh nguyên một quả đạn lựu đạn M79 nơi bắp chân trái, được võng về trại. Đã xin tản thương bằng trực thăng về Quân Y Viện, nhưng bị từ chối, vì ai cũng sợ đạn sẽ phát nổ trong lúc di chuyển.
Bác sĩ Ý nghĩ: phải làm một phòng mổ dã chiến với một bức tường bằng bao cát có “khung cửa sổ”. Khung cửa sổ vừa tầm tay để anh có thể cầm dao mổ và đặt một cái bàn cho thương binh nằm cạnh khung cửa sổ này ở phía bên kia bức tường.
Nhiều thùng gỗ pháo binh và bao cát được thay nhau mang đến, lính Biệt Kích làm thật nhanh chỉ thoáng chốc là đã xong cái khung.
Trong lúc chờ cái phòng mổ dã chiến của mình hoàn tất, anh đi bách bộ trong sân trại nghĩ cách đặt người thương binh nằm thế nào, gây tê làm sao?
Viên sĩ quan trợ y chạy đến báo đã làm xong mọi việc, kể cả cái cán dao mổ mà anh vẽ kiểu. Ðó là cán dao bằng gỗ hình chữ L mà lưỡi dao mổ sẽ được cột chặt vào nơi cạnh ngắn.
Vào đến phòng mổ dã chiến hoàn tất. Bức tường bao cát màu xanh đậm càng làm tăng không khí lạnh lùng, qua khung cửa sổ ánh sáng đèn mổ chói chang.
Bác sĩ Ý đến bên khung cửa sổ, thử đi thử lại với con dao mổ cho nhuần nhuyễn. Người thương binh được khiêng lên bàn mổ từ từ. Ðôi mắt mở lên nhìn anh, muôn ngàn lời nói. Anh mỉm cười và vỗ vai để anh ta yên lòng. Hai chân được cột chặt vào chân bàn mổ, tất cả thân người đã được phủ áo giáp trừ nơi chân bị thương.
Thật cũng buồn cười, thay vì p h ả i mặc “blouse” khử trùng, mang (găng) gants khử trùng, anh phải khoác một áo giáp, cổ áo giáp vén cao để bảo vệ cái cổ của mình. Anh lại thử cán dao qua khung cửa để thuần tay. Chân bị thương được khử trùng…Gây tê bắt đầu…một giây cao su“garrot” được cột phía trên vết thương…
Mọi việc tiến triển tốt đẹp…
Anh xin mọi người rời khỏi phòng, trừ Bác sĩ Xuân và Y tá Trưởng. Chung quanh yên lặng theo dõi anh. Khi biết thuốc gây mê đã thấm. Anh gật đầu ra hiệu, Ðại Úy Giác ra lệnh các khẩu pháo ngừng bắn.
Không gian đột nhiên im như tờ. Anh nghe tim mình đập mạnh và nhanh. Hít thật sâu và tập trung tư tưởng…nhìn cái chân phồng lên qua khung cửa nhỏ.
Không nhìn thấy mặt mình lúc này, anh nghĩ chắc là tái xanh. Mồ hôi rịn khắp người lạnh toát, nhưng anh quyết định thực hành ngay. Lấy hơi và nín thở. Dao mổ đi một đường nhẹ, một tiếng “cách” nhỏ khi lưỡi dao đụng vào đầu đạn làm anh toát mồ hôi. Ngưng lại một giây chờ đợi, không có gì xẩy ra, làm mình thêm vững chí. Tiếp tục nhấn mạnh lưỡi “scalpel” và rạch vết mổ cho rộng thêm. Quả đạn M79 nằm tròn đây rồi – đầy đe dọa – được từ từ gắp ra với cái kẹp nước đá.
Anh thở phào trong tiếng reo mừng của toàn thể anh em có mặt. Quả tạc đạn được đặt ngay trong thùng đạn đại liên đã lèn đầy bông băng, trao cho chuyên viên tháo gỡ đạn dược mang ra sân sau trại cho nổ.
Mọi người đến bên anh bắt tay chúc mừng. Anh Giác đến trao cho anh một điếu Quân Tiếp Vụ. Anh “rít” một hơi, sao mà nó ngon quá!
Anh thương binh nhìn anh cười thật tươi như lời cảm ơn. Vết thương được cầm máu, rửa sạch và băng lại.
Mọi người cười nói ồn ào, vui vẻ khác hẳn mấy tiếng đồng hồ trước kia.
(Trích Pleime, hè 71_ Lê Thành Ý)
Những trường hợp cá nhân can đảm không sao để hết được, họ đến từ mọi quân binh chủng như: Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Bộ Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp, Hải Quân, Không Quân, Biệt Kích Dù/Biệt Cách Dù, Biệt Động Quân, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Quân Y
Khi hai phe đối địch, nếu cái thế, cái lực, và vũ khí ngang nhau, ‘một chín một mười’, thì sự can đảm, dễ biểu lộ ra từ mỗi người trong cuộc. Bởi rằng, sự can đảm được yểm trợ bởi phương tiện có trong tay, và bởi những chiến hữu đang sát cánh.
Thế nhưng, nếu có sự chênh lệch rõ rệt, thì một trường hợp can đảm từ phía yếu thế, phải được coi là rất đáng phục và rất đáng ghi vào sử sách.
2- Trung Sĩ Lượm .
Ngày 30-3-1972, Cộng Sản Bắc Việt xua 30,000 quân chính quy, với 200 xe tăng T54 vượt vùng phi quân sự, tiến đánh Quảng Trị. Bên ta, Sư Đoàn 3 Bộ Binh, bị tổn thất nặng. Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến được điều động đến giữ Đông Hà.
Chiếc xe tăng đầu tiên của địch vừa chồm lên đầu phía bắc cầu Đông Hà, thì Trung Sĩ Lượm, tại đầu cầu phía nam, nhô lên khỏi hố cá nhân, dương súng Law M.72, nhắm bắn ngay. Quả đạn bay vụt cao, trượt khỏi mục tiêu.
Chiếc T-54 tiếp tục. Khoảng cách đôi bên là 250 m. Như vậy chỉ trong vòng 10 giây là chiếc xe tăng này sẽ vượt hết cây cầu. Địch bắn như mưa, đủ loại súng, đại bác, đại liên. Trung Sĩ Lượm can đảm, nhanh như chớp, lại nhô lên, bắn viên M.72 thứ nhì. Viên đạn trúng ngay chỗ pháo tháp gắn vào thân xe. Khói bốc lên.
Trục tiến của đoàn xe tăng Bắc Việt bị chặn lại.
Trung Tá Turley, Trưởng Toán Cố Vấn Mỹ, đã ví đây là sự đối đầu của một “David” Á Châu.
Theo sách của Samuel, thuộc bộ kinh thánh Cựu Ước, David là một cậu bé thuộc quân Israelites, không có kiếm và cũng chẳng có áo giáp. Cậu đã dùng một viên đá sỏi để bắn trúng được vào đầu gã khổng lồ đã mặc áo giáp kín khắp người, là Goliath trong đội quân Philistines.
Tên này ngã sấp mặt. David xông lên, lấy cái kiếm của gã khổng lồ rồi cắt đầu hắn.
Trung sĩ Lượm, với trọng lượng cơ thể khoảng 50 ký, nhô lên hụp xuống để đối đầu với 40 tấn thép là T-54. Và Trung Sĩ Lượm đã thắng. Nhờ lòng can đảm.
3- Thiếu Tá Tô Văn Cấp và Gia Đình.
Thông thường, nếu một người có thân nhân đã tử trận thì thế nào họ cũng hơi chùn bước. Điều này hợp lẽ thường. Không ai nỡ trách.
Nhưng nếu một gia đình, có một hay vài người đã hy sinh vì tổ quốc, mà những người con trai khác không sờn lòng, vẫn can đảm muốn phục vụ trong một binh chủng sống hùng sống mạnh, thì không ai là không cảm phục.
Đó là trường hợp gia đình Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Tô Văn Cấp.
Người bị thương đầu tiên là anh rể của ông Cấp, tên là Nguyễn Duy Xướng, một Trung Đội Phó, thuộc Tiểu Đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến. Ông bị thương trong trận Mỏ Cầy, vào năm 1956.
Sau khi lành vết thương, Ông vẫn tiếp tục chiến đấu.Tiếp tục bị thương nhiều lần nữa. Lần sau cùng, Ông bị cắt 1/3 lá phổi. Lẽ ra với cấp độ tàn phế như thế, thì Ông là thương phế binh, có thể xin giải ngũ. Người vợ năn nỉ Ông điều này.
Nhưng Ông gắt lại: “Nếu có chết, thì phải chết trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến”. Người chót thuộc gia đình này đã đóng góp xương máu cho quốc gia là Đại Úy Tô Thanh Chiêu, Đại Đội Trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 4 TQLC.
Anh hy sinh trong lúc giao tranh từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền vào ngày 25- 03-1975.
Liên tục suốt 20 năm, 5 anh em họ Tô và 3 người cháu, thi nhau vào Thủy Quân Lục Chiến, dù đã thấy người trước từng bị thương từ nhẹ tới nặng mấy lần, hoặc đã tàn phế hay chết không tìm được xác.
8 người phục vụ dưới cờ Thủy Quân Lục Chiến thì tử trận hết 7.
Ắt phải có một dòng máu can đảm đã chẩy trong huyết quản của họ.
Thật đáng phục và đáng kính thay!
Có người sẽ hỏi: Riêng ông Cấp thì sao?
Xin đáp ngay là: Theo học khóa 19 Sinh Viên Sĩ Quan, Võ Bị Quốc Gia Việt Nam năm 1962. Sau khi mãn khóa vào năm 1964, tốt nghiệp Thiếu Úy, tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến. Ông về Tiểu Đoàn 5, rồi sau đó được chuyển sang Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên.
Trong trận Việt Cộng phục kích tại Phò Trạch 29-6-1966, Thiếu Uý Cấp đã bị thương. Chỉ trong khoảng thời gian 3 năm, tính từ ngày này, Tô Văn Cấp đã bị thương 5 lần.
Lần chót vào ngày 19-6-1969, trong một trận đánh ở kinh Cán Gáo, Chương Thiện, Tô Văn Cấp bị thương nặng. Sau khi bình phục, với cấp độ tàn phế cao, Ông có thể được trở về đời sống dân sự.
Nhưng ông đã không xin giải ngũ.
Ông rất tự hào, nhất là đã có 5 Chiến Thương Bội Tinh (Ngôi Sao Đỏ. Ông rất hãnh diện về điểm này. Đã đổ máu cho quốc gia, 5 lần trong suốt đời quân ngũ.) Lại có người hỏi tiếp: Ông có chạy thoát được vào ngày 30-4-1975 không? Nếu không, chắc Việt Cộng bắt được ông, chúng sẽ hành hạ dữ lắm?
Xin thưa: Thiếu Tá Tô Văn Cấp không bao giờ có ý định chạy cả. Nếu muốn yên thân, thì ông đã giải ngũ từ 6 năm trước
Đâu cần đợi đến ngày mất nước, mới lo cho mạng mình. Cho đến giờ phút chót, trước khi Dương Văn Minh hạ lệnh đầu hàng, Thiếu Tá Tô Văn Cấp vẫn còn giữ chức vụ Chỉ Huy Phó Căn cứ Sóng Thần. Binh sĩ dưới quyền thật “hùng dũng và kỷ luật, vẫn sẵn sàng tiếp tục chiến đấu.” Vị Tư Lệnh Phó đáng kính của binh chủng là Đại Tá Nguyễn Thành Trí, khi đưa quân từ chiến trường phía Đông về tới đây, đã nhận xét như vậy.
Sau ngày mất nước ông Cấp bị tù gần 10 năm trong các trại tập trung:
1- Long Giao, Suối Máu (ở trong Nam)
2- Rồi Lào Cai, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang, Vĩnh Phú (ở ngoài Bắc)
3- Xong lại được trở về Nam ở Hàm Tân, Xuân Lộc Z30D.
III- Một người, khi sa cơ thất thế, không còn gì trong tay, và đang lọt vào tay kẻ thù, mà vẫn can đảm, thì đó là những can đảm phi thường .
Dưới đây là một số trường hợp điển hình. Xin mời đọc.
1_Bác Sĩ Vũ Đức Giang.
Tháng 3-1975, Y Sĩ Trung Úy Vũ Đức Giang, thuộc khóa 21 Quân Y Hiện Dịch, là Y Sĩ Trưởng Tiểu đoàn 7 Thuỷ Quân Lục Chiến.
Sáng ngày 26 tháng 3, 1975 Bác Sĩ Giang đã di chuyển các thương binh lên chiếc LMC đầu tiên xong. Vì danh dự của một cấp chỉ huy, anh lại trở xuống. Cuối tháng 3 Miền Trung mất. Bác Sĩ Giang bị bắt .
Dưới đây, xin trích vài đoạn của Bác Sĩ Phạm Anh Dũng, một Y Sĩ thuộc Sư Đoàn 3 Bộ Binh, vốn là bạn thân của Bác Sĩ Giang đã viết về lòng can đảm của Giang:
…Và cũng trong “Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975” của Phạm Huấn về Vũ Đức Giang:
“……Cuối năm 1976, lại một lần nữa, muốn bảo vệ danh dự của một Quân Y Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, anh đã tự tử chết trong trại tù ở phi trường Ái Tử, ngoài Đông Hà, Quảng Trị”.
Cuối cùng thư của chị Nga viết từ Saigon, ngày 10 tháng 6, 1988. Vũ Đức Giang vẫn cương quyết, bất khuất … Giang đã lựa chọn cách bày tỏ thái độ phản đối hành động của Cán Bộ Việt Cộng cai tù. Nguyên văn đoạn viết về Giang trong thơ của người chị: “…
..Trường của chị bán căng tin ở Thủ Đức, có ông bác của Giang làm Bảo Vệ, nhắc về cái chết của Giang ở trong trại. Giang đòi hỏi về Nhân Quyền, bọn cán bộ mới hăng máu quá đã đánh Giang và bắt quỳ. Giang không quỳ. Họ nhốt kín và Giang đã tự tử chết. Chị đã buồn mãi khi nghe chuyện và rất nhớ Giang, những ngày Dũng đi vắng đã đến tận nhà chích thuốc cho chị khi chị bị yếu phổi. Giang rất hiền và tốt. Sao số lại tàn nhẫn quá!…”.
2_Thiếu Tá Phạm Cang
Tháng 3 năm 1974, ông được chỉ định giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến cho đến ngày 27- 3-1975, ông bị bắt tại cửa Tư Hiền (Huế).
Ông đã trải qua 12 năm 8 tháng trong các nhà tù Cộng Sản.
Khi sa cơ thất thế, Ông vẫn giữ được tư cách và phong thái anh hùng. Tiểu Đoàn Trưởng Phạm Cang và Tiểu Đoàn Phó Lê Quang Liễn của Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến đã cùng 7 người khác, chỉ huy toàn thể tù nhân vùng dậy. Cuộc bạo động đó xẩy ra ngày 20-4-1979 tại phân trại 04, thuộc trung tâm cải tạo Bình Điền, tỉnh Thừa Thiên .
Sau vụ này nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách tàn bạo đến gẫy xương, trào máu, bầm gan tím ruột.
Thiếu Tá Phạm Cang liền bị 3 năm 4 tháng biệt giam.
3_Thiếu Tá Lê Quang Liễn
Suốt 10 năm, từ 1965-1975, ông luôn luôn phục vụ trong Thủy Quân Lục Chiến. Từ khi mang cấp bậc Thiếu Tá, ông lần lượt được giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó của 3 đơn vị: Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 9 và Tiểu Đoàn 7.
Ngày 26-3-1975, khi có một tầu LCM, vào gần bờ để bốc thương binh, Thiếu Tá Liễn ôm xác người em trai, bơi ra tầu. Vừa kịp lúc tầu kéo bửng lên, nên cả hai anh em Liễn, người sống và người chết lăn vào trong tầu. Vừa khi tầu lui ra, thì Liễn nhẩy xuống biển, bơi trở lại vào bờ để tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội, và rồi bị bắt cùng đồng đội.
Ngày 27-3-1975, ông bị bắt tại cửa Tư Hiền. Ông bị giam trong những trại tập trung từ ngày đó.
Bất cứ ai, khi sa cơ thất thế, mà vẫn giữ được tư cách và tiết tháo của mình, đều đáng trọng. Giữ được tiết tháo mà còn lại tiếp tục phong thái anh hùng thì lại càng đáng khâm phục hơn nữa. Đó là trường hợp Tiểu Đoàn Trưởng Phạm Cang và Tiểu Đoàn Phó Lê Quang Liễn của Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến đã cùng 7 người khác, chỉ huy toàn thể tù nhân vùng dậy.
Bọn công an liền đánh đập họ một cách tàn nhẫn. Nhiều sĩ quan đã nằm la quằn quại trên những vũng máu rồi chết trong tù sau những trận đòn dã man vô nhân đạo.
Sau đó, Thiếu Tá Lê Quang Liễn bị biệt giam 4 năm 7 tháng 24 ngày. Ông từng bị cùm bởi nhiều thứ cùm quái ác.
Tổng Cộng thời gian ông bị nhốt trong trại tập trung là 12 năm 11 tháng.
4_Phi Công Lý Tống
Lý Tống là một Phi Công A 37 của Không Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 5/4/1975 ông nhận nhiệm vụ phá hủy cây cầu tên là Ba Ngòi, vùng Cam Ranh. Máy bay của Ông bị trúng hỏa tiễn SA7. Ông nhẩy dù xuống, thoát chết. Rồi bị bắt. Cuộc đời tù của ông kéo dài 6 năm liên tiếp qua nhiều trại.
Tháng 10-1975 Lý Tống trốn khỏi trại, nhưng sau vài ngày bị bắt lại, giải về địa ngục trần gian, rồi bị nhốt vào conex 6 tháng.
Ông bị tra tấn.Việt cộng dùng kìm rút từ từ những móng chân của Lý Tống. Ông thản nhiên chịu, không kêu la.
Ông nghĩ:
“Các người chỉ rút được móng chân ta, nhưng không bao giờ rút được ý chí sắt đá đã đúc thành khối vững chắc trong đầu ta!”
Trong suốt những năm ở trong tù, Lý Tống bị hành hạ, tra tấn đủ mọi cách. Kể cả bị cùm chân trong cùm gỗ khổng lồ. Nhưng chưa bao giờ Việt cộng thành công trong việc bắt nổi Ông quỳ.
Ông kể lại: …
“Ngày hôm sau, tôi bị dẫn vào gặp trưởng trại, y ra lệnh cho tất cả vệ binh ra khỏi phòng rồi bảo tôi:
— Tôi biết anh đã từng bất tuân lệnh quỳ của Cán bộ tại các Trại… Ở đây, không có ai. Nếu anh chịu quỳ trước ảnh Hồ Chủ Tịch, tôi sẽ bỏ qua mọi tội lỗi của anh và tha anh về Trại ngay lập tức. Tôi lắc đầu bảo:
— Cám ơn thành ý của ông. Ở đây không có ai nhưng còn có ông, có tôi, có Trời, có Đất và có lương tâm của tôi. Tôi thà trở lại nhà kỷ luật hơn làm chuyện hèn hạ, nhục nhã đó.
Nói xong, tôi tự động bỏ về nhà cùm.”
Lý Tống gan dạ, cương quyết , thông minh và rất mưu trí nên cuối cùng ông vượt thoát được khỏi trại tù A30. Sau vài ngày ông về đến vùng Tuy Hòa, men ra quốc lộ. Vượt sang được đất Thái Lan, tưởng đã tới xứ tự do, nhưng không.
Ông lại bị nhốt một lần nữa.
Sau 10 tháng, ông lại vượt ngục Thái Lan, rồi băng rừng vượt núi thoát sang Mã Lai. Cuối cùng đến trạm biên giới gần Singapore , Ông bơi vượt eo biển Johore Strait, đầy cá mập, vào ban đêm.
Tới Mỹ, Ông ghi tên theo học Đại Học. Ông đậu Cử nhân, rồi Tiến Sĩ.
Sống trên đất Mỹ, với đầu óc hướng thượng, nhắm tới Vì Hạnh Phúc và Tự Do của đồng bào, Lý Tống hai lần bay về Việt Nam, thả truyền đơn xuống, thúc giục đồng bào vùng dậy diệt Cộng Sản. Lần đầu thả hết 50,000 truyền đơn xong, nhẩy dù xuống. Ông bị bắt, bị tù 6 năm. Lần thứ hai, hoàn tất sứ mệnh, lại bị Thái Lan giam giữ 7 năm.
5_Nguyễn Hữu Luyện
Trong bài Người Tù Kiệt Xuất, tác giả Phan Lạc Phúc đã viết lại ..
…Trên nguyên tắc trại Thanh Phong K1 đặt dưới quyền chỉ huy của trại trưởng, Trung Tá Công An Thùy “mồi”, nhưng trên thực tế anh em Biệt Kích Dù suốt 20 năm tù đày gian khổ, vẫn tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị chỉ huy của họ, Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện. Đây là một con người huyền thoại. Chúng tôi nghe đến tên anh từ lâu nhưng chưa bao giờ được gặp, vì anh không đi lao động ở ngoài. Anh em Biệt Kích Dù đều tỏ ra rất nghiêm trang, rất kính cẩn mỗi khi nhắc đến “Ông Thầy” của họ. Truyện về Đại Úy Biệt Kích Dù này khá nhiều, đầy vẻ hoang đường, truyền thuyết. Đây là người sau 20 năm bị bắt vẫn còn tuyên bố:
“Tôi Nguyễn Hữu Luyện, Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa… tôi chưa thua các anh. Tôi mới thua một trận, chưa thua cuộc chiến này”.
– Bắt Nguyễn Hữu Luyện đi lao động, anh nói: “Các anh có thể giam tôi, bắn tôi, nhưng danh dự của một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không cho phép tôi làm những công việc mất nhân cách. Quy chế sĩ quan không cho phép tôi làm như vậy”.
Anh đã bị kiên giam nhiều năm tại rất nhiều trại rùng rợn, dã man nổi tiếng nhưng Nguyễn Hữu Luyện trước sau vẫn là Nguyễn Hữu Luyện, không thay đổi, không khiếp sợ, không khuất phục…
…Trong món đồ hàng ngày đi tắm của Nguyễn Hữu Luyện có một vật rất lạ, rất ít có ở đây. Tù đi tắm thì cứ thế cởi truồng, vục tay xuống suối mà kỳ cọ, tắm rửa. Hoặc buổi sáng có ra giếng rửa mặt thì cũng chỉ mang cái thùng kéo nước với bàn chải đánh răng là cùng. Nguyễn Hữu Luyện đi tắm khác với người ta, mang theo một cái chậu men xanh thật đẹp. Màu men óng ả chói ngời…tương phản rõ rệt với màu cố hữu của trại tù là màu xám xịt. Tôi mới hỏi Nguyễn Hữu Luyện: “Ở đâu mà có cái chậu men xinh đẹp vậy?”. Nguyễn Hữu Luyện trả lời: “Tôi cũng không ngờ là tôi lại nhận cái chậu này. Của tên trại trưởng trại “Mục Xương” ở Cao Bằng tặng cho tôi đấy. Cao Bằng giáp với biên giới Trung Hoa nên vẫn có hàng lậu đi từ Trung Quốc sang. Cái chậu này là đồ làm từ Quảng Châu có nhãn hiệu chỉ rõ. Dạo cuối thập niên 70, tên Trại Trưởng Thiếu Tá Công An nó hành tôi ghê lắm. Nhất định nó bắt tôi đi lao động. Tôi thì nhất định không đi. Nó liền cùm chân. Cùm chán rồi đem xuống hầm tối. Rồi bắt nhịn ăn. Mùa lạnh nó còn đổ nước xuống hầm nữa. Tôi người Công giáo nên tôi cầu Đức Mẹ Maria, trong cơn thập tử nhất sinh, tôi cũng cầu luôn Phật Bà Quan Âm nữa. Nó hành tôi mãi năm này sang năm khác mà cuối cùng tôi vẫn còn sống. Nhưng mà chết thì thôi, tôi nhất định không đi lao động. Không chịu thua chúng nó”. – “Như vậy thì tên trại trưởng này nó hận anh ghê lắm, tại sao nó lại tặng anh cái chậu này?”- “Tôi cũng không biết nữa, hắn hành tôi luôn mấy năm, nhưng cuối cùng hắn thả tôi ra khỏi hầm kiên giam. Một bữa hắn cho gọi tôi lên. Hắn nói: “Tôi sắp đổi đi trại khác, có phải anh ưa tắm rửa lắm phải không? Tôi tặng anh cái chậu Trung Quốc này”. Tôi từ chối nhưng hắn ta cứ để cái chậu lại, rồi bắt tay từ biệt. Chẳng đặng đừng, tôi phải giữ cái chậu men xanh này, mà tôi cũng không hiểu tại sao hắn lại làm như thế”.
Muốn hiểu hành động của tên trại trưởng này xin mời đọc phần dưới đây.
Trong cuốn sách Still, thuộc loại truyện rợn người (thriller), của tác giả người Đức Zoran Drvenkar, xuất bản năm 2014, có một câu chuyện tương tự. Một nhóm 4 tên có máu sát nhân, cứ đến mùa đông, khi tuyết bắt đầu rơi là chúng bắt cóc một số bé gái, khoảng từ 7-13 tuổi. Cũng đôi khi có cả bé trai nữa. Chúng nhốt chung tất cả dưới hầm kín, không có ánh mặt trời. Không ai nhận được mặt ai.
Cứ một, hai ngày, một khuôn cửa nhỏ ở trên nóc hầm được mở ra, rồi một cánh tay thò xuống, nắm tóc hay đầu của một đứa bé lôi lên. Như cái cách thò tay vào chuồng gà, bắt một con đem giết. Trúng đứa nào, đứa nấy chịu. Rồi đóng cửa hầm lại.
Bọn sát nhân, thích săn bắn, chọn nơi này, quanh năm không có người bước tới. Một căn nhà, một cánh rừng, một cái hồ.Và mùa đông tuyết rất dầy, cao tới một hoặc hai thước, ngập đất trời.
Chúng sẽ thả đứa trẻ vừa bị lôi lên cho nó tuỳ ý chạy hay trốn, trong rừng, dưới hồ, hay trong các hang hốc băng tuyết. Đứa trẻ trở thành con mồi. Cả tiếng đồng hồ sau đó, 4 tên mới chia nhau ra, sách súng đi tìm bắn.
Lucia và đứa em trai là Niklas đều bị bắt. Rồi em cô ta bị lôi lên trước. Vài ngày sau, đến lượt cô ta được thả cho trốn.
Trên đường trốn chạy, cô đã thấy 3 đứa chết trên tuyết, và 4 đứa chết dưới băng. Trong số này, không thấy em trai cô. Cô tin tưởng, nó còn sống. Cô nhẩm tính, kể cả mình, có 5 đứa chưa bỏ mạng.
Cô đang đứng, chợt thấy lạnh gáy. Quay nhìn, thấy một đứa bé gái khác, đang đứng nhìn mình. Lucia tưởng ma, thì cô kia quay mình đi chạy mất. Lát sau, cô kia lại hiện ra, hỏi tên của Lucia và tự xưng tên là Kaja. Hai cô gái lủi trong rừng tuyết. Lucia chợt thấy trên một cành cây, trong một cái hốc, đứa em trai mình. Đứa bé trai leo xuống. Hai chị em ôm chặt lấy nhau. Rồi một đứa bé trai nữa, tên Tim cũng nhô ra. Mấy đứa cùng đi, tìm cách thoát khỏi bọn sát nhân.
Một đêm, Niklas mắc tiểu. Cô chị mệt. Kaja tình nguyện dắt nó đi. Mới chỉ cách chỗ nằm một khoảng ngắn, Lucia nghe tiếng em kêu thét lên. Lucia chạy tới, trước bụng đứa em, có một con dao cắm ngập tới chuôi. Nó gục xuống chết. Kaja nói: “Tôi chẳng nhìn thấy gì cả.”
Ai ngờ Kaja là con gái của 1 tên sát nhân trong bọn, và đã được huấn luyện bởi cha nó để giết người. Kaja lẩn quất trong rừng, và khi gặp đứa bé nào đang lẩn trốn, thì sẽ đóng vai là đã từng bị bắt cóc và cũng đang tìm cách thoát thân, rồi thừa cơ ra tay giết.
Hôm sau Kaja lại đâm chết được Tim, rồi cầm dao đuổi theo Lucia. Lucia chạy nháo nhào, nhẩy xuống một hố băng. Kaja lao xuống theo. Vật lộn trong nước đá lạnh buốt, một mất một còn. Kết quả, Lucia siết cổ Kaja cho đến chết.
Nàng chạy thoát được về thành phố. Rồi được điều trị trong bệnh viện. Thật ra, thì ngay sau đó bọn sát nhân, đã tìm ngay được phòng của Lucia, và sẵn sàng hạ thủ. Nhưng bố của Kaja nói: “Tôi kính phục Cô Bé ấy”.
Cô ấy là người độc nhất sống sót…
Bọn sát nhân, đã tranh luận rất lâu. Có đứa nhấn mạnh: “Nó đã giết chết Kaja là con gái mày”. Nhưng cuối cùng cả bọn, kể cả tên thủ lãnh, đã phải theo ý người bố của Kaja, là không hạ sát Lucia nữa.
IV_Một hội chứng mới về tâm lý.
Có một biến chuyển tâm lý được biết tới vào năm 1973, tại Stockholm, Thụy Điển. Bốn người bị một bọn cướp nhà băng bắt giữ làm con tin trong 6 ngày. Khi nhóm con tin được giải cứu, họ lại toan tính bảo vệ bọn cướp, vì trong lòng họ đã phát sinh ra một tình cảm bạn bè với chúng.
Biến chuyển tâm lý này được đặt tên là Hội chứng Stockholm. Nạn nhân có cảm tình với kẻ đã hành hạ hoặc manh tâm giết họ.
Trường hợp của Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện và nhân vật Lucia hoàn toàn trái ngược hẳn .
Họ là nạn nhân của mọi đối xử tàn ác. Nhưng tên cai tù Việt cộng đã tự biết rằng mình là thua Đại Úy Luyện về mọi mặt, từ dũng khí đến tính bền bỉ. Trong bụng, gã đã rất kính phục Ông. Món quà gã nhất định để lại tặng Đại Úy Luyện, là một lời tạ lỗi và thú nhận tôi xin cúi mình trước sự can đảm trường kỳ và bất khuất của ông.
Gã sát nhân trong cuốn sách Still cũng vậy. Kaja, con gái của gã bị Lucia giết. Nhưng gã tự biết, chính gã đã thua, và nói rõ cho đồng bọn biết: “Tôi kính phục Cô Bé ấy”.
Tôi rất mong rằng, các Bác sĩ sẽ đặt cho hiện tượng biến chuyển mới này về tâm lý một tên gọi. Thí dụ như Hội chứng Người Tù Kiệt Xuất, trong đó những kẻ cực ác hay có máu sát nhân, trong đầu chúng, tự biết là mình đã thua những nạn nhân can đảm phi thường của chúng, rồi phát sinh ra lòng kính phục.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here