PHONG TRÀO THƠ MỚI HÀN MẶC TỬ

0
192

Võ Văn Bằng

Tiếp theo kỳ trước và hết

TRĂNG VÀNG TRĂNG NGỌC
Các văn nhân thi sĩ thường lấy trăng làm đối tượng của thơ và dệt nên những vần thơ bất hủ. Hàn Mặc Tử cũng dùng trăng như một món hàng đắt giá để rao bán và người mua phải thối lại bằng chữ thơ…
“Trăng! trăng! trăng! là trăng trăng trăng
Ai mua trăng, tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò
Bao giờ đậu trạng vinh qui đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ”.
“Thối chữ thơ” có nghĩa lấy chữ ấy, nghĩa ấy nhưng dùng không đúng chỗ nên phải đổi lại cho đúng. Thường thường, chữ và nghĩa chỉ có giá trị “ước định” để đặt tên người, vật và sự vật. Mỗi chữ mang nhiều nghĩa: nào là nghĩa đen, nghĩa bóng, điển tích và nghĩa biểu trưng như nói về chữ “trăng”, người ta liên tưởng đến người đẹp “hằng nga” ở trên mặt trăng và sự cao siêu huyền diệu.
Nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã mượn ánh trăng để mơ tưởng đến tình nhân:
“Trăng soi trước vách ngờ chân bước
Gió thổi bên tai ngỡ mặt chào.
Và, ông cũng dùng ánh trăng để hưởng nhàn:
“Thị tại môn tiền náo
Nguyệt lai môn hạ nhàn.
(Chợ ở trước mặt thì náo nhiệt
Trăng soi trước cửa thì nhàn hạ)
Thi hào Nguyễn Du cũng đã mượn trăng để làm chứng cho mối tình đầu của Kim Trọng và Thúy Kiều:
“Vừng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh đinh hai miệng một lời song song”
Hàn Mặc Tử cho rằng thơ dệt nên trăng nhưng trăng không phải là thơ nên ông ta đem trăng đi bán nhưng không ai dễ mua vì trăng là vô giá và là của chung của mọi người.: “Không! không! không! tôi chẳng bán hồn trăng
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thật là anh dại quá
Trăng vàng trăng ngọc bán sao đang.
Trăng là một thiên thể tách ra từ mặt trời. Trăng phát ra ánh sáng là phản ánh của mặt trời và trăng cũng là một vẽ tinh quay xung quanh mặt đất nên khi trăng tròn, trăng khuyết, trăng tàn là do quả đất che.
Sự thật trăng là trăng, không tròn, không khuyết, không hợp, không tan mà các văn nhân thi sĩ đã “nhân cách hóa”, mà thôi!
Thơ của Hàn Mặc Tử đã dùng nét bút “tả chân”, nói lên sự khác biệt với các trường phái khác, trong đó chữ, nghĩa phải được cân nhắc cẩn thận. Chữ cũng như nghĩa do con người đạt ra để trao đổi, đinh ước với nhau trong sự giao dịch, Nó chỉ là phương tiện, có giá trị tương đối.
Đức Phật Thích Ca lúc thuyết pháp, ngài đua ngón tay chỉ lên mặt trăng và bảo vớt đại chúng rầng :
“Ngón tay ta là phương tiện, cỏn mât trăng là chân lý”.
Có nghĩa giáo lý của Phật như ngón tay chỉ lên mặt trăng, là phương tiện hướng dẫn cho mọi người nhìn lên mặt trăng, biểu trưng cho chân lý giải thoát.
Cho nên, chân lý là sự thật hiển nhiên trong đời sống hiện tại như ý tưởng bài thơ “Trăng” của Hàn Mặc Tử:
“Trăng vàng, trăng ngọc
Trăng! trăng! trăng! là trăng trăng trăng.
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò
Bao giờ đậu trạng vinh qui đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ
Không! không! không! tôi chẳng bán hồn thơ
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt là anh dại quá
Trăng vàng trăng ngọc bán sao đang
Trăng! trăng! trăng! là trăng trăng trăng!
Trăng sáng, trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi làm cho trăng một chuổi hạt
Trăng mới là trăng của rạng ngời
Trăng! trăng! trăng! là trăng trăng trăng!
Và, cuối cùng Hàn Mặc Tử lấy trăng làm cứu cánh cho cuộc đời:
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi làm cho trăng một tràng chuổi
Trăng! trăng! trăng! là trăng trăng trăng!
Tràng chuổi hạt là một phương tiện nhắc nhở hành giả mỗi khi lần một hạt là đem hết lòng thành kính hướng về Chúa hoặc Phật tùy theo đức tin của mình.
Thơ của Hàn Mặc Tử phản ảnh cuộc đời “tài hoa bạc mệnh” cùa mình. Khi còn tuổi thanh xuân, Hàn Mặc Tử như chồi non trổi dậy đầy nhựa sống, yêu đời dệt nên những vần thơ mới, ca tụng tình yêu đốt cháy trong tâm hồn với những kỷ niệm qua thơ văn hai mối tình khác nhau nhưng cuối cùng chỉ là những mối tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu:
Với Mộng Cầm ở Phan Thiết:
“Ôi trời ơi! Là Phan Thiết
Mà tang thương còn lại mãnh trăng rơi

Ta đến nơi nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Và, chỉ để lại giọt lệ cho đời
Trời hởi, bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi tựa thành si
Họ đã xa rồi không níu lại
Lòng thương chưa đã, nếm chưa bưa
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ dưới trời sầu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những hạt châu?
Mối tình Mộng Cầm đã sang ngang và Hàn đã tuôn trào nước mắt ra thơ, còn mối tình của cô gái khuê phòng xứ Huế ấp ủ trong tim không nói nên lời: Cô Hoàng thị Kim Cúc ở xóm Vĩ Dạ trong một gia đinu quí phái, tây học. Thuở nhỏ cô theo cha là tham tá vào Qui Nhơn làm việc ở Nha Đạc Điền. Ở đây cô quen biết với nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử, vì Hàn là nhân viên của bố cô.
Sau nầy, cô trở về Huế, học trường trung học Đồng Khánh từ lớp đệ thất đến đệ tứ và thi đổ bằng Thành Chung . Sau đó, cô dạy lại trường Đồng Khánh với môn “Nữ công gia chánh. Trong thời gian nầy, cô được tin Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, hiện nằm tại bệnh viện Qui Hòa (Qui Nhơn) nên cô gởi một tấm bưu thiếp thăm viếng và an ủi, đồng thời có kèm theo một tấm ảnh cảnh sông Hương với cô chèo đò được mua ở tiệm sách. Có lẽ khi nhận được bưu thiếp của Hoàng Cúc. Hàn Mặc Tử xúc động đã sáng tác bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ”. Và, giờ đây, hình ảnh của các cô gái khuê các ấy đã bị mờ đi vì thời gian và hoàn cảnh:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here