THƠ THIỀN VÀ CÂU CHUYỆN VỀ THIỀN

0
11

Võ Văn Bằng

Thơ Thiền của thiền sư Mãn Giác (1062- 1096) xuất hiện về đời nhà Lý. Ngài cảm tác bài thơ sau đây:
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu chủng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Tiền đình tạc dạ nhất chi mai
H.T Thích Thanh Từ dich:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.
Thiền cũng như thơ thiền không có đối tượng nên không có lý luận, giải thích, ai tu nấy chứng, ai làm nấy biết.
Câu chuyện Thiền sau đây nói lên ý niệm ấy:
– Hai vị sư đi khất thực về phải lội qua con suối, nước suối không sâu nhưng chảy xiết.
Hôm ấy, tình cờ gặp một cô con gái đứng chần chờ trên bờ như muốn nhờ người giúp đỡ dìu qua suối. Một vị sư biết ý nên đến cỏng cô ta qua bên kia bờ. Xong xuôi, hai vị sư tiếp tục tiến bước…
Khi về đến chùa, chưa kịp đặt binh bát xuống bàn, vị sư thứ hai với vẻ mặt tức giận quát lớn:
“Tôi không ngờ thầy tu hành đã lâu mà nay đã phạm giới “cõng người đàn bà qua khe”. Vị sư kia sực nhớ và ôn tồn đáp:
“Thế ạ ! đệ chỉ cõng cô ta một khúc suối ngắn, còn huynh thì cõng cô trong tâm thức một đoạn đường dài về đến chùa!”
Câu chuyện Thiền khác : “Vị sư nọ xuống núi đi vào làng để khất thực và mỗi lần đi phải qua một chuyến đò ngang. Cô lái đò nhìn thấy nhiều lần sư liếc nhìn cô nên cô cảm thấy khó chịu và nghĩ cách phản ứng: Hôm ấy, đò cập bến, moi người trên chuyến đò trả tiền.
Đến lượt sư, cô bảo:
“Sư phải trả cho tôi 4 hào, thay vì 2 hào một chuyến!”
Sư ngạc nhiên hỏi”
“Vì sao cô lại buộc tôi trả tiền gấp đôi ?
Cô trả lời:
“Hai hào sau là tiền sư đã nhìn tôi”
Vị sư xấu hổ không nói lên lời liền trả tiền và cất bước…
Lươt về, sư bước xuống đò với vẻ mặt trầm ngâm và quyết định dứt khoát không ngó mặt cô lái đò nữa, nhưng lần nầy cô lại lấy 8 hào và cô ta giải thích:
“Lần đầu, khi đi qua, sư nhìn tôi bằng mắt. Lần sau nầy, sư nhìn tôi ở trong tâm thức? Vị sư liền “ngộ”, thấy “Phật pháp” ở trong tâm mình!
Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) là một ông vua sống trọn vẹn về đời và đạo, Ông đã ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi và ban giao tốt đẹp với Chiêm Thành ở phía Nam. Vua đã gã con gái là Huyền Trân Công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy Châu Ô và Châu Rí tức tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay.
Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm Nguyên Mông, Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên núi Yên Tử xuất gia đầu Phật.và lập nên dòng Thiền “Trúc Lâm Yên Tử” năm 1299.
Ngài đã làm một bài thơ thiền với nhan đề: “Cư Trần Lạc Đạo”:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia cư hữu bảo lưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.
Ngô Tất Tố dịch:
“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Của báu trong nhà thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.
Vô tâm là tâm không bị nhiễm, trong sáng, vô ngại không còn mộng tưởng, điên đảo, đạt đến Niết Bàn rốt ráo. Thiền có nhiều môn phái nhưng chung quy lấy “Định” làm căn bản tu hành.
Mặt nước hồ thu bằng phẳng và trong sáng, phản chiếu bầu trời trong xanh. Cánh Nhạn bay qua không để lại dấu vết.
“Đối cảnh vô tâm” có thể hiểu qua bài thơ sau đây:
“Cánh Nhạn bay qua cõi không
Bóng chìm dòng nước lạnh cảm
Nhạn nào có ý tưởng bay
Hồn nhiên nước chảy vô tâm”
Thiền sư Từ Đạo Hạnh là một danh sư có công lớn đối với Triều Đình nhà Lý (1072- 1127). Ngài có một bài thơ thiền nổi tiếng với bản dịch ra quốc ngữ:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả Thế gian này cũng không
Kìa xem bóng nguyệt, dòng sông
Ai hay không có, có không là gì?”
Mảy may là vật nhỏ nhất như hạt bụi nhưng hạt bụi cũng từ đại địa mà ra, cho nên sự có mặt của vạn vật đều nằm trong định luật “Một là tất cả, tất cả là một”.
Đời người ngắn ngủi không đủ sống để thấy sụ biến đổi của trời đất như các nhà khảo cỗ đã nói: “Thương hải biến vi tang điền” nghĩa là bãi biến biến thành nương dâu. Từ nhân sinh đến vũ trụ đều bị chi phối theo luật “Vô thường vô ngã”. Đó là điều hiển nhiên được xác minh của luật vô thướng “Sinh, Trụ, Hoại, Không”.
Nói tóm lại, tu bất kỳ pháp môn nào cũng giữ cho Tâm được thanh tịnh, buông xả, không dính mắc và tự tại vô ngại.
Xin mượn “câu chuyện thơ Thiền” của văn hào Tô Đông Pha (Trung Hoa) gữi đến tặng thiền sư Phật Ấn như sau:
Bát phong xuy bất động: “
Khả thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong suy bất động
Đoan tọa tử kim liên.
Dịch:
Tám ngọn gió thổi không động:
“Đảnh lễ bậc giác ngộ
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng”.
Thiền sư Phật Ấn xem xong chẳng nói gì, liền phê vào hai chữ “Phóng thí” (đánh rấm) rồi cho người đem về trình lại với họ Tô.
Đúng như lời dự đoán, Tô Đông Pha xem xong, nổi giận đùng đùng liền đích thân đến hỏi thiền sư Phật Ấn để hỏi cho ra lẽ.
Vừa gặp mặt, Tô Đông Pha lớn tiếng trách: “Bài thơ của tôi sai sót chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “trung tiện” kia!.
Thiền sư Phật Ấn cười ha hả và nói:
“Thiền là tám ngọn gió thổi không động mà chỉ một cái “trung tiện” mà đưa ngài qua đây rồi!”
Nghe xong, Tô Đông Pha chợt ngộ!

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here