TẢN ĐÀ VỚI LỜI “THỀ NON NƯỚC”

0
19

Võ Văn Bằng

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 20 tháng 4 năm 1889 tại làng Khê Thượng, huyện Bát Bạt, tỉnh Sơn Tây là một nơi nằm trên bờ sông Đà, cách núi Tản Viên 10km đường chim bay nên ông lấy hiệu là Tản Đà.
Ông là một nhà thơ, nhà văn và viết kịch vào đầu thế kỷ thứ 20 như một ngôi sao sáng xuất hiện giữa bầu trời hai nền văn hóa cỗ điển và hiện đại. Ông còn làm báo, từng là cọng tác viên cho “Nam Phong” và sáng lập ra “An Nam tạp chí.
Một trong số hàng trăm bài thơ của ông phản ánh được hoàn cảnh lịch sử đất nước đầu thế kỷ 20:
Thề Non nước
“Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non
Nhớ lời “nguyện ước thề non”
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm héo gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời Tây ngã bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non
Dù cho sông cạn, đá mòn
Còn non, còn nước, vẫn còn thề xưa
Non cao đã biết hay chưa?
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt, non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề”
Nước và non đã có một “duyên nợ” từ trước qua lời thề gắn bó với nhau nhưng theo sự tuần hoàn vũ trụ, những “đổi thay không bao giờ thay đổi”, đã trổ thành một định luật “Vô thường” của vạn vật và đời sống của con người.
Nước và non thường hội ngộ với nhau nhưng bản chất và hình thể khác nhau: Non cao vời vợi, đứng sừng sửng một nơi, còn nước là một chất lỏng, không có hình dáng, trơn tru, chảy về chỗ thấp, tạo thành khe, suối, sông rồi tuôn trào ra biển.
Tuy nước và non khác nhau về hinh dạng, trạng thái nhưng sẽ luôn luôn gặp nhau qua hiện tượng: Nước biển bốc thành hơi, đọng lại thành mây. Mây gặp gió đưa lên tận đồi núi, Ở đây mây gặp khí lạnh thì đông lại thành lỏng, tạo thành hạt mưa rơi xuống thung lũng và nước đầy tràn về chỗ thấp và luân chuyển như thế không dứt.
Nhà văn Tản Đà đã nhìn vào hiện tượng tự nhiên của trời đất “Không có những gì còn và cũng không có những gì mất” mà dệt nên những vần thơ sống động và yêu đời!”: “Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt, non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non, nước nước không nguôi lời thề.
Trên diễn đàn văn chương Việt Nam từ trước đến nay đã chịu ảnh hưởng về tư tưởng Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo và đã kết hợp thành “đạo Ông bà” hay đạo Hiếu. Do đó, các văn nhân thi sĩ thường dùng tư tưởng, triêt lý của đạo giáo nói trên để diễn tả tâm trạng của mình như trường hơp nhà thơ cận đại Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã nhìn cảnh vật qua tuệ giác của nhà Phật.
Ngoài ra, Tản Đà đã mạnh dạng mở đầu cho loại thơ tự do, phóng khoáng, vượt ra ngoài khuôn khổ cũ, điển hình bài “Tống biệt” của tác giả:
“Lá đào rơi rác lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa, luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa, có thế thôi
Đà mòn, duyên nhạt
Nước chảy, mây trôi
Cái hạt bay lên vút tận trời
Trời đất từ đây xa cach mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
Nói tóm lại, Tản Đà cũng như một số nhà văn, nhà thơ ở cuối thế kỷ thứ 19 đầu thế kỷ thứ 20 đã vùng dậy đứng lên làm một cuộc cách mạng về văn hóa khi bắt gặp làn gió văn minh Tây phương thổi đến.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here