NỮ SĨ HỒ XUÂN HƯƠNG

0
187

Võ Văn Bằng

Không có tư liệu nào chép về tiểu sử của Hồ Xuân Hương nhưng qua thơ văn của bà, hậu thế có thể biết bà sinh ra vào cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19 đồng thời với Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến… Bà cùng với một số văn nhân thi sĩ tân tiến muốn làm một cuộc cách mạng văn hóa, tư tưởng trong thời cận đại và bà là một phụ nữ đầu tiên can đảm tự nói lên sự thật đời tư của mình nói riêng và thân phận đàn bà nói chung dưới chế độ phong kiến đang bị ràng buộc vào khung “Tam tòng, tứ đức” của Nho giáo.
Hồ Xuân Hương có hai đời chồng nhưng đều làm vợ lẽ. Lần đầu lấy ông Tổng Cóc (cái tên móc nôi). Ông tên thật là Nguyễn Bỉnh Kình, con nhà trọc phú lại thích thơ văn, ngâm vịnh nên ông đã tạo lập cho bà một khu Thủy Tạ riêng biệt. Tuy nhiên, phận thê thiếp đâu có được hạnh phúc bằng vợ chính nên bà đã than vãn trong bài thơ “Kiếp chồng chung”:
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăng bông, kẻ lạnh lùng
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm xôi, xôi lại hẳm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Thân nầy ví biết dừơng nầy nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Hồ Xuân Hương không thể chịu cảnh cô đơn, thiếu bình đẳng trong việc đối xử tình cảm giữa vợ cả và vợ bé nên cuối cùng bà phải dứt bỏ mối tình với ông Tổng Cóc bằng một điếu văn :
“Chàng Cóc ơi! chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn năm không chuốc dấu bô vôi”.
Bước thêm một bước nữa, Hồ Xuân Hương lại gặp ông Phủ Vỉnh Tường với thân phận làm vợ bé, nhưng chỉ sống với ông trong một thời gian ngắn, Ông đã bỏ nàng ra đi về bên kia thế giới, bà đã khóc thực sự với cái duyên nợ ngắn ngủi hai mười bảy tháng chung sống với ông Phủ. Giờ đây, bà thầm trách tạo hóa bất công “đánh mất cán cân” để cho “miệng túi càn khôn” khép lại rồi:
“Trăm năm ông Phủ Vỉnh Tường ôi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn khép lại rồi
Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc
Trăm năm ông Phủ Vỉnh Tường ôi!
Tạo hóa sinh ra vũ trụ và vạn vật với sự điều hòa nhịp nhàng và tinh tế, nay cán cân tạo hóa đã mất, sự điều hòa không còn nữa, dĩ nhiên vũ trụ phải quay cuồng ngược xuôi.
Hồ Xuân Hương đã dụng ý và dùng từ rất khéo và tài tình trong hai câu: “Cán cân tạo hóa rơi đâu mất” và “Miệng túi càn khôn khép lại rồi”. “Cán cân” ám chỉ ông Phủ đã mất, “miệng túi càn khôn” ám chỉ Hồ Xuân Hương phải an phận cô đơn! Hai câu thơ ấy với hàm ý trách móc tạo hóa bất công và tiếc nuối cho người quả phụ bạc phận nói chung và nàng nói riêng!.
Trong thời phong kiến, người đàn bà bị trói buộc trong đạo Nho với cái gông “Tam tòng”: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà thì theo cha, lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì ở quá nuôi con). Biết bao nhiêu quả phụ bị chôn vùi tuổi thanh xuân nhất là trong thời chiến! để được vua ban thưởng câu: “Tiết hạnh khả phong”.
Nay Hồ Xuân Hương đánh đổ cái điều phi lý, phản lại tự nhiên, nó đã hảm hại cuộc đời “nửa chừng xuân” của biết bao phụ nữ !
Chính bà là nhân chứng, người trong cuộc đã từng chịu cảnh cô đơn, “phòng không gối chiếc”, trằn trọc suốt đêm với oán hận mình và đời!:
“Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
Oán hận trong ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông chùa không đánh mà sao om
Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ
Sau giận vì duyên đã mõi mòn
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân nầy đâu đã chịu già tom!
Hầu hết những bài thơ của Hồ Xuân Hương đều hận đời, than thân trách phận nhưng không phải vì thế mà nữ sĩ trốn tránh cuộc đời, trái lại bà còn tha thiết với cuộc sống như bài “Vịnh trái mít”:
“Thân em như quả mít trên cây
Vỏ nó xù xì, múi nó dày
Quân tử có yêu thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay”.
Có thể nói thơ của Hồ Xuân Hương chứa đựng tính chất “Hỉ, nộ, ái. ố” trong cuộc đời trần tục, đầy khổ não, trớ triêu nhưng ai ai cũng chấp nhận “thương đau!”. Cái ẩn số ây ai cũng biết nhưng không giải thích được trừ nữ sĩ Hồ Xuân Hương:
“Vịnh cái Quạt”
“Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dáng tự nghìn xưa
Chành ra ba góc da còn thiếu
Ghép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi vắng gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã chán chưa?”.
Cái lỗ để xâu các nan quạt, gồm có 16 hoặc 18 nan phát xuất từ một chốt. Các nan nầy xòe ra đều đặng và được phất “dán” lên hai mãnh giấy màu dính lại bằng chất keo.
Duyên có nghĩa là dính lại với nhau. Khi các nan xòe và căn ra thành ba góc để phe phẩy quạt. Lúc hết dùng thì xếp lại nên hai bên nan đùn lại như mớ thịt thừa.
Hai câu kết, tác giả gạn hỏi người trong cuộc là giới quan chức hay giới trọc phú rằng: “Phì phạch trong lòng đã chán chưa?”.
Tác giả dùng chữ “phì phạch” để mô tả âm thanh phát ra từ quạt giấy và hỏi người thưởng thức đã chán chưa?
Câu hỏi nầy bà có ngụ ý chê trách những gã đàn ông khi cần đến quạt thi nâng niu phe phẩy, xong thì chán chường không để ý tới!
Hồ Xuân Hương đã ví thân bà như cái quạt và cái bánh “Xôi nước” làm bằng bột nếp, màu trắng, hình tròn.
“Thân em thì trắng, phận em tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặng
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here