CAO BÁ QUÁT (1809-1855)

0
38

Võ Văn Bằng

Cao bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiễn, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh.
Thuở nhỏ, Cao bá Quát sống trong cảnh nghèo khổ nhưng nổi tiếng là người thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt nhất vùng. Lớn lên, ông chỉ đậu bằng cử nhân tại trường thi Hà Nội năm 1831 và đã mấy lần vào kinh đô Huế để thi hội nhưng đều hỏng.
Năm 1841 đời vua Thiệu Trị, ông được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử vào Kinh đô làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Tại đây, ông cùng một số đồng sự chữa lại bài thi hay của thí sinh bị phạm “húy”. Việc ấy bị bại lộ, nên ông và những người có liên can bị bắt giam vào ngục. Khi ra tòa, ông bị tội tử hình “trảm quyêt” nhưng được vua Thiệu Trị giảm cho ông xuống tội “giảo giam hậu” tức giam lại đợi lịnh.
Thơ văn của Cao bá Quát thuộc loại siêu đẳng và phản ánh tính tự hào. kích bác của ông đối với thời cuộc. Có lần ông được tin vua Minh Mạng ra Bắc để được vua Thanh phong tước. Nhân cơ hội nầy, ông tặng cho Vua một bài học:
“Hôm ấy, trời nóng nực khó chịu, nhân lúc Vua ngự chơi đền Trấn Võ, Cao bá Quát lén đến trước, cởi trần truồng quần áo và nhảy xuống hồ tắm. Lính cảnh vệ dẹp đường liền phát hiện ra Quát đang tắm dưới hồ bèn gọi lên. Quát chần chờ không chịu mặc áo quần và đưa tay chịu trói. Đến lúc vua Minh Mạnh tới, thấy Quát trần truồng cho là vô lễ liền ra lịnh đánh đòn. Quát tự xưng là học trò, vì vô tình không biết trước Vua đến và xin Vua tha tội.
Vua bảo:
“Nếu ngươi là học trò, trẩm ra câu đối, đối được thì tha, bằng không thỉ bị đánh mười đòn.
Vua liền chỉ tay dưới hồ, đang lúc con cá lớn đuổi bắt con cá bé mà rằng:
“Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Quát sáng mắt lên như tìm được câu họa nhưng y giả bộ gãi đầu, gãi tai, xin vua tha lỗi mới dám nói. Vua Minh Mạng chấp thuận và Quát nói:
“Trời nắng chang chang, người trói người!”
Cũng như các nhà văn trào phúng đương thời, Cao bá Quát đã dùng ngòi bút sâu sắc của mình để khích bác vào chế độ phong kiến, lac hậu của chế độ nhà Nguyễn như lời tương truyền rằng trước khi Lê bá Quát chịu án “trảm quyết”, ông làm hai câu thơ mạt sát chế độ đương thời:
“Ba hồi trống dục, đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời!”
Cao bá Quát đã sống và chứng kiến cảnh bất công, độc tài, độc trị của triều đại nhà Nguyễn mà dân chúng oán hận vô cùng.
Vào tháng 6, tháng 7 năm 1664 tại Bắc Kỳ lại xẩy ra nạn dịch châu chấu xuất hiện, phá hại mùa màng, dân chúng bị mất mùa, đói khổ lầm than lại bị sưu cao, thuế nặng nên đã đến lúc Cao bá Quát ra tay khởi nghĩa. Ông quy tụ tầng lớp trí thức, bình dân cho đến cùng các sắc dân tộc trong vùng phối hợp với nhóm nổi dậy do Lê Duy Cự chỉ huy, ông chỉ giữ vai trò quốc sư.
Về phía triều đình Huế, vua Tự Đức truyền cho các lảnh binh từ Thanh Hóa trở ra dốc toàn lực các vệ binh tiến công dep loạn đối phương. Vì lực lượng của triều đình quá mạnh lại thêm có cả súng đại bác nên các toán nghĩa quân phải rút lui sau khi Lê văn Cự bị bắt ở Hải Dương và Cao bá Quát bị trúng đạn chết tại chỗ.
Từ đó, sự nghiệp văn chương của Cao bá Quát bị vua Tự Đức ra lênh thu hồi và tiêu hủy kể cả ba dòng họ của ông đều bị “Tru di tam tộc”.
Tuy nhiên, ông được bạn bè và dân chúng mến chuộng nên người ta sưu tầm qua truyền khẩu với vài trăm bài thơ của ông với khí phách và văn phong độc đáo khó lòng phủ nhận, ngay đến vua Tự Đức cũng phải ca tụng:
“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường”
(Văn như Nguyển văn Siêu và Cao bá Quát thời tiền Hán phải thua. Thơ Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thời thịnh đường còn kém).
Nói tóm lại, Cao Bá Quát là một nhà thơ xuất sắc của thời đại. một nhà cách mạng đương thời, dám nói dám làm, chống lại ba đời nhà Nguyễn : Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức nhưng thất bại vì chế độ quân chủ chuyên chế đã đè nặng lên đầu quần chúng hàng trăm năm, cất đầu lên không nổi. Tuy nhiên, cái chết oanh liệt của ông đã thắp lên ngọn đuốt soi sáng cho hậu thế tiến lên con đường tự do, dân chủ và nhân quyền. Sau đây là hai bài thơ trong hàng trăm bài của tác giả được sưu tập:
Đời người thấm thoát
“Nhân sinh thiên đia gian nhân nghịch lữ
Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày
Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay
Sực nhớ chữ “cỗ ngân bỉnh chúc”
Cao sơn, lưu thủy, thi thiên tục
Minh nguyệt, thanh phong, tửu nhất thuyền
Dang tay người tài tử, khách thuyền quyên
Chén rượu thánh, câu thơ thần thích chí
Thành thị ấy mà giang sơn ấy
Đâu chẳng là tuyết, nguyệt, phong, hoa
Bốn mùa xuân lại thu qua”.
Uống rượu tiêu sầu
“Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời
Tiêu khiển một vài chung lêu láo
Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu
Trầm tư bách kế bất như nhàn
Dưới thiều quang thấp thoáng bóng nam san
Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ
Khoảng trời đất cỗ kim kim cỗ
Mãnh hình hài có có không không
Lọ gì thiên tứ vạn chung.
Cao Bá Quát là con người thông minh, tài giỏi nhưng mắc tính tự cao, tự mãn. Ông đã từng nói: “Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, tôi chiếm mất hai bồ, anh tôi là Cao Bá Đạt và bạn tôi là Nguyễn văn Siêu chiếm một bồ, còn lại một bồ chia cho moi người!”.
Nhóm thơ văn thi xã nổi tiếng ở cố đô Huế do Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương (con của vua Minh Mạng) sáng lập cũng bị Cao Bá Quát chê bai thậm tệ:
“Ngán cho cái mũi vô duyên
Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An”.
(Thuyền Nghệ An chở nước mắm, có mùi hôi).
Đặt biệt, Cao Bá Quát là một ngưởi thâm Nho nhưng có một tinh thần phục thiện sớm nhất trong cuộc“cách mạng về văn hóa” khi ông đi phục dich cho phái bộ nhà Nguyễn ở Tân gia Ba “Singapore” về, thấy được sư văn minh tiến bộ của xứ người:
“Tân Gia vừa vượt con tàu
Mới hay vũ trụ một bầu bao la
Giựt mình khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi!”

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here