THƠ TRÀO PHÚNG TRẦN TẾ XƯƠNG (1870-1907)

0
127

Võ Văn Bằng

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi làn gió văn minh Tây phương thổi sang Việt Nam, đa số các văn nhân, trí thức bàng hoàng trước sự thay cũ đổi mới kể cả vua quan trong Triều đình.
Trước hết là về văn hóa, tư tưởng khác nhau theo lời tường trình của các sứ giả Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ và Phạm Phú Thứ khi ở Pháp về. Từ đó phát sinh ra hai khuynh hướng bảo thủ và tiến bộ:
“Cái học nhà nho đã hỏng rồi
Mười người theo học, chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương nhấp nhỏm ngồi
Sĩ khí rụt rè, gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ
Trình có quan tiên thứ chỉ tôi”
Trần Tế Xương là một nhà thơ trào phúng. Ông sinh ngày10 tháng 8 năm canh ngọ (5-9-1870) tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. và vợ là bà Phạm thị Mẩn, người xinh xắn, giàu lòng yêu chồng, thương con, và có tiếng là người đảm đang Quanh năm buôn bán khắp ven sông
Nuôi nấng năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Éo xèo mặt nước buổi đò đông”
Tú Xương ca ngợi vợ, người đàn bà đảm đang, âm thầm lặn lội khắp ven sông để nuôi năm con với một chồng. Ông rất thông minh xuất chúng nhưng mang tính hiếu học và nghệ sĩ nên cuộc đời của ông gắn bó với thi cử và hài hước. Tính ra có tất cả 8 lần thi, đến lần thứ tư trong khoa giáp ngọ “1894”, ông mới đổ tú tài.
Có lần, trước khi đi thi, ông trối trăn với vợ :
“Chuyến này tớ hỏng tớ đi ngay
Cúng giổ từ đây nhớ đến ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ngậm ớt thế mà cay!
Tú Xương đang đứng giữa hai nền văn hóa Đông Tây, một tâm trạng “dở khóc, dở cười” của kẻ sĩ lúc bấy giờ mà ông đã mạnh dạng nói lên cái bỉ ổi của trường thi:
Một đàn thằng hỏngđứng mà trông
Nó đổ khoa nầy có sướng không
Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông Cử ngổng đầu rồng!
Tú Xương cũng đã nhàm chán cái cảnh trường thi. Đổ đạt để ra làm quan như các ông Nghè, ông Cống với băng cấp tiến sĩ, cử nhân trong đó không tránh khỏi cái cảnh “mua quan, bán chức!”, đem đồng tiền ra mua danh để mặc áo gấm với lọng vàng, lọng xanh nên Tú Xương không tiếc lời chửi rủa:
“Phen nầy ông quyết đi buôn lọng
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng”
Trong những ngày Tết, mọi người thăm viếng và chúc tụng lẩn nhau những câu “khách sáo” theo thói quen như “Sống lâu trăm tưổi”, “Con cả, cháu bầy”, “Tiền vô như nước, tiền ra nhỉ giọt”… Tú Xương cho rằng những lời chúc tụng nói trên là một hủ tục không phải là “văn hóa”, cần phải đào thải nên ông đã dùng ngòi bút sắc bén để đánh đổ
Về lời chúc: “Sống lâu trăm tuổi” thì số người già rất đông và những vị nầy từ 60 tuổi trở lên sẽ rụng răng, nên :
“Phen nầy ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu!”
Còn việc chúc “Con cà cháu bầy” cũng vậy, Tú Xương báo tin cho họ biết:
“Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên ở núi non”
Riêng Tú Xương có lời chúc đơn giản nhưng khó ai làm được
“Bắt chước ai, ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ờ trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người”
Trở lại tình trạng đất nước lúc bấy giờ: Bên trong thì vua quan nhiễu nhương, bên ngoài thì Pháp chiếm mất 6 tỉnh Nam Kỳ và đặt nền đô hộ toàn cõi Việt Nam. Các phong trào chống Pháp nổi lên đều bị thất bại.
Trần Tế Xương sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh bi đát của lịch sử, lại thêm hấp thụ tinh thần nho gia phong kiến của gia đình và mang tính nghệ sĩ và 8 lần thi hỏng , chỉ thi đổ tú tài nhưng chưa được bổ dụng làm quan nên ông bất mãn, ăn chơi trác táng mặc cho vợ phải tầng tạo nuôi năm con với một chồng:
“Quanh năm buôn bán khắp ven sông
Nuôi nấng năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãn vắng
Eo xèo mặt nước buổi đò đông”.
Trần tế Xương “cười ra nước mắt”, Ông đã khóc cho thân phận “trai thời loạn” bị mất nước, khóc cho chính mình đã bị đầu độc do hoàn cãnh xã hội gây nên. Trong bài “Tự trào” sau đây như một lời tự thú mà ông đã cam đảm nói lên:
“Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quịt
Thồ đĩ lại chơi lường”.
***
“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà”
Trần Tế Xương đã khóc và cười ra nước mắt trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức bi đát: Sáu tỉnh ở Nam Kỳ bị thực dân Pháp chiến đoạt và chiếm đánh Bắc kỳ để đặt cơ sở thống trị toàn cõi Việt Nam, trong khi các phong trào chống Pháp nổi dậy thất bại và các sĩ phu thì lo sợ như “gà phải cáo”!
Trước thời cuộc đen tối của đất nước, Trần Tế Xương lui về ẩn dât tại quê nhà với đèn sách, sưu tầm thơ phú, dạy dỗ con cái và đành chịu ân sủng của vợ như bài thơ “Quan tại gia” của tác giả sau đây
“Một ngọn đèn xanh, mấy quyển vàng.
Bốn con làn lính, bố làn quan
Câu thơ câu phú sưu cùng thuế
Nghiên mực, nghiên son tổng với làng
Nước quạt chưa xong, con ngựa nhảy
Trống hầu chưa dứt, bố lên thang
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ
Đem chuyện trăm năm giở lại bàn”.
Với sự băng khoăn và lời than vãn trước sự sụp đổ của nền Nho học của Trần Tế Xương nói riêng và các Nho sĩ nói chung đã tự nó biến thành một cuộc văn hóa vĩ đại bằng chất xám của não bộ như nhận xét của nhà nho Cao Bá Quát khi đi theo phục dịch cho phái bố triều đình nhà Nguyển từ Tân Gia Ba về:
“Tân Gia (Singapore) vừa vượt con tào
Mới hay vũ trụ một bầu bao la
Giật mình khi ở xó nhà
Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi
Không đi khắp bốn phương trời
Vùi đầu án sách, uổng đời làm trai!.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here