HỒN THƠ – HỒN NƯỚC

0
117

Võ Văn Bằng

“Lối xưa xe cộ, hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”… Bà huyện Thanh Quan đã viết hai câu thơ trên trong bài “Thăng Long Thành hoài cỗ”, nói lên cảnh tượng đổ nát tàn tạ của cỗ thành. Những hình ảnh lâu đài tráng lệ, xe ngựa dập dồn, cây cối xanh tươi như “hồn thu thảo” đang còn sống lại trong tâm trí của bà nhưng nay cảnh vật ấy không còn nữa!…
Hồn thu thảo là hồn của cỏ cây mùa thu. Khi gió hiu hiu thổi, lá vàng rơi, thi nhân cảm thấy: “Mỗi chiếc lá rụng có một linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm giác riêng”… Alphonse de Lamartine (1790-1869), một văn hào Pháp thuộc phái lãng mạn “Romantic” đã thốt lên câu: “Objets inamines! avez vous donc une ame qui s’attache à notre âme et la force d’aimer?”.

Tạm dịch”
(Hởi các vật vô tri vô giác! ngươi có linh hồn chăng mà bắt ta phải ràng buộc, đắm đuối?”.

Dù cây cỏ là vật vô tri vô giác nhưng tự nó cũng có một sự sống kỳ diệu: Rễ cây hút chất khoáng trong đất rồi đưa lên thân cây gọi là nhưa nguyên, nhựa nguyên chuyển qua các mach nhỏ để đưa lên tàn lá. lá được ánh sáng mặt trời tác dụng “diệp lục hóa” tạo thành nhưa luyên để nuôi cơ thể của cây (giải thích khoa học).
Trong lãnh vực thơ văn, các thi nhân thường xuất hồn sáng tác những áng văn bất hủ, sống mãi trong lòng người: Đó là “Hồn thơ”.
Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:
“Sao anh không về thăm thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo đường gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến đêm trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?”

Phải chăng Hàn Mặc Tử đã dùng từ “trắng quá” nhìn không ra vì sương (thời gian) và khói (bom, đạn) làm mờ đi người con gái thôn Vĩ trước đây mà tác giả đã mơ tưởng! Thiên nhiên và lòng người thường hòa quyện vào nhau để trở thành “hồn thiêng của núi sông, đất nước!”.
Trong văn chương Việt Nam có những áng văn thơ “xuất thần” sống mãi trong lòng của dân tộc như Bình Ngô Đại cáo của văn hào Nguyễn Trãi (1380-1442). và bài hịch chiến sĩ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt (1019- 1105) như một bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền” đầu tiên của đất nước VN:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tạm dịch”

(Núi sông nước Nam, vua nước Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh bại tơi bời).

Cố Hòa ThượngThích Mãn Giác có làm bài thơ “Nhớ chùa” trong đó có bốn câu kết
“Chuông vẳng nơi nào nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chỡ hồn dân tôc
Nếp sống muôn đời của Tổ Tông”

Thiền sư Mãn Giác (1052-1096) về đời nhà Lý, đã được vua Lý Nhân Tông cùng Hoàng hậu tôn kính lập chùa Giao Nguyên, thỉnh sư về làm trụ trì. Ngài đã sáng tác một bài thơ thiền bất hủ xem như một bài kệ:
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Tiền đình tạc dạ nhất chi mai

H,T Thanh Từ dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười T
rước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

Thiền sư Từ Hạnh Đạo (1072-1116) viết bài kệ:
Tác hữu trần sa hữu
Vũ không nhất thiết không
Hữu không như nhật nguyệt
Vật trước hữu không không

Nguyễn Đăng Thục dịch:
Có thì có tữ mảy may
Không thì vũ trụ này cũng không
Có, không bóng nguyệt dòng sông
Cả hai tuy vậy chẳng không chút nào.
Những câu chuyện bình thường khác đã nói lên sự thật của nó về nghĩa “Có, Không” như sau:
Thời xưa chưa có kiếng để soi mặt nên người ta soi mặt vào lu, chậu, bể cạn chứa nước. Một hôm, có ả soi mặt vào lu nước và nước đã hết nên không thấy có mặt mình, Y hoảng hốt ôm đầu chạy và la lên “mất đầu!”. Cũng như có con chó găm cục xương chạy qua cầu, nó nhìn dưới mặt nước có cục xương (ảo ảnh) liền nhả cục xương trong miệng, nhảy xuống nước vồ lấy cục xương lớn hơn.
Qua hai câu chuyên thí dụ nói trên, cho ta thấy cái thật của mình mà từ chối để nhận cái không thật “ảnh ảo” cho là thật để rồi đau khồ
Nói tóm lại: Hồn thơ, hồn nước, hồn dân tộc luôn luôn sống mãi trong lòng người như câu nói: “Anh hùng tận nhưng khí hùng bất tận” và sẽ xuất hiện một cách linh hiễn như câu trong bài hịch “Bình Ngô Đại Cao” cùa thi hào Nguyễn Trãi”:
“Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến từ lâu
Nước non bờ cỏi đã chia
Phong tuc Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
Bao đơi xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
Mỗi bên hùng cứ một phương T
uy mạnh yếu có lúc khac nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có”…

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here