“TRUYỆN KIỀU CÒN THÌ TIẾNG TA CÒN, TIẾNG TA CÒN THÌ NƯỚC TA CÒN”

0
229

Võ Văn Bằng

Nhận định về truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du, nhà văn Phạm Quỳnh nói:
“Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn
Tiếng ta còn thì nước ta còn
Phạm Quỳnh (1892-1945) là một nhà văn hóa, nhà báo và làm quan Đại thần nhà Nguyển. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc quàn bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt thay cho Nho. Ông được xem như người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho sự khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cà ba kỳ (Trung, Nam, Bắc). Chống lại sự bảo hộ Pháp, kiên trì chủ trương chủ nghĩa Quốc gia với thuyết “Quân chù lập hiến”. Có thể nói Phạm Quỳnh là một nhân vật chuyển tiếp giữa chế độ Quân chủ chuyên chế với dân chủ pháp trị.
Về chủ nghĩa Quốc gia với nền văn hóa và giáo dục lâu đời được tồn tại như một dòng máu “huyết thống”của dân tộc không thể bị tiêm nhiễm và hủy hoại được bất kỳ ở đâu và hoàn cảnh nào!
Nhưng rất tiếc đất nước Việt Nam đến thời mạc vận, rơi vào tay Cộng sản và những bậc tài cao, đức trong bị bắt đi “cải tạo” và thủ tiêu sau mùa thu “cách mạng tháng 8”.
Cuối thế kỷ 20, các nước đi xâm chiến thuộc đia như Anh, Pháp…phải trả phần đất thuộc địa cho sở hữu chủ, cho nên dù Cộng sản Hồ Chí Minh có thắng hay bại trận Điện Biên Phủ, Pháp cũng trả lại Nam Kỳ và cuốn cờ trở về nước như các thuộc địạ của Anh trên Thế Giới.
Trở lại với tư tưởng và văn hóa Việt Nam trong thời Phạm Quỳnh qua truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Phạm Quỳnh nêu lên hai điểm:
“Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn Tiếng ta còn thì nước ta còn”.
Tiếng nói để diễn tả tư tưởng, phong tục, tập quán của một dân tộc.
Xét về ngôn từ trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã dùng đủ tiếng nói rất phong phú và đa dạng từ trí thức đến bình dân.
Những điển tích đặt đúng chỗ và hợp tình hợp lý, như việc Kiều khuyên Từ Hải ra hàng. phải gợi lên cái cảnh “Nấm xương Vô định đã cao bằng đầu” trong điển tích “Hoàng Sào” :
“Làm chi để tiếng về sau
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào
Chữ nghĩa, tên gọi vật và sự vật là do định ước từ hàng ngàn năm nay được phổ biến rộng rãi trong dân gian, tất cả những ngôn từ ấy đều có sẵn trong truyện Kiều, kể cả những chữ “lóng”, hiểu ngầm như chữ “Đã”, “e”:
”Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”
Cách dùng chữ của tác giả cũng rất tài tình để diễn tả tâm trạng khác nhau nhưng cùng một mục đích:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường
Tác giả đã dùng nửa mặt trăng “in” lên gối chiếc để nói lên nỗi niềm sầu muộn của Kiều đã in sâu vào tâm khảm, còn nửa vầng trăng về phía bên Thúc Sinh đang soi đường chỉ lối cho chàng, nói lên sự lo lắng của nàng trong việc chàng về thương lượng với vợ cả có “suôi chiều mát mái” để cho nàng làm vợ bé hay không!?.
Cái phong phú và hấp dẫn của truyện Kiều là gặp hoàn cảnh nào người ta cũng đem truyện Kiều ra đối đáp và ví von thật sít sao. Họ còn dùng thơ Kiều để bói toán hay ngâm vịnh trong dịp xuân vì trong đó có đủ các trường hợp “Hỷ, nộ,ái, ố!”.
Nói tóm lại, ngôn ngữ cũng như văn hóa truyền thống được hình thành cùng với lịch sử, nên cụ Nguyên Du đã un đúc khá đầy đủ các ngôn từ ấy trong truyện Kiều, kể cả những nhân vật và điển tich y như trong bổn cũ để nói lên rằng: “Văn hóa cũng như khoa học là của chung của nhân loại” nên nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã mạnh dạng nói:
“Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn…
Vế thứ hai:
Tiếng ta còn thì nước ta còn”.
Vế sau này như Phạm Quỳnh muốn nói tiếng yêu quê hương đất nước in sâu vào tâm khảm của con dân Việt Nam qua lời ca, tiếng hát mà bà mẹ Việt Nam đã dạy con từ thuở nằm nôi:
“Hò…ơ…hai tay cầm bốn tao nôi.
Tay thẳng, tay dùi, tay nhớ, tay thương!.
Từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành, bà mẹ dạy con luôn luôn nhớ đến bốn ân đức: Ơn Quốc gia, ơn Xã hội, ơn thầy, bạn và ơn cha mẹ biểu trưng qua bốn tao nôi!
Cũng như nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác bài ca bất hủ “Tôi yêu tiếng nước tôi” với mấy câu mở đầu:
“Tôi yêu tiếng nước tôi,
từ khi mới ra đời, người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời:
A a ơi ! Tiếng ru muôn đời !
Tiếng nước tôi! bốn nghìn năm ròng rã buồn vui…tiếng ơi!
Nguyễn Du, một đại Văn Hào Việt Nam, đã dùng tiếng mẹ đẻ để phiên dịch truyện “Kim Vân Kiều” bên Tàu với một tinh thần hoàn toàn Việt Nam.
Về mặt tâm linh, những điều trông thấy mà không giải thích được, cụ đã khôn khéo đưa ra học thuyết “Tài mênh tương đố” hay “Bỉ sắc tư phong” và bàng bạc trong truyện Kiều tư tưởng, triết lý “Phật, Lão. Khổng”, tác giả đã mượn những nhân vật tu hành để giải thich:
Sư Tam Hợp:
“Sư rằng: “Phúc họa tại trời
Cỗi nguồn cũng bởi lòng người mà ra
Có trời mà cũng có ta
Tu là cõi phúc, tình là dây oan!”
Nói tóm lại, cụ Nguyễn Du đã Viêt hóa truyện Kiều của Trung Hoa thành truyện Kiều của Việt Nam bằng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người Viêt với nét hài hòa bình dị.
Nhà Văn hóa Phạm Quỳnh tâm đắc với tiên sinh Nguyễn Du nên lấy truyện Kiều làm mẫu mực cho ngôn từ Việt Nam.
Và ngày nay, vẫn còn thích hợp với hoàn cảnh đất nước trong khi đảng Cộng sản đang cai trị Việt Nam, đang hủy hoại di sản tinh thần quí báu của Tổ Tiên bằng cách tiêu diệt “Con dòng của giống” cũa Tổ tiên ta từ nghìn xưa qua hai thế lực ngoại lai năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam, chẳng khác gì Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa đã “Đốt sách và chôn sống học trò”.
May thay! hàng triệu đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản khắp năm châu, đã mang theo “Nguyễn Du và truyện Kiều”, một trong những di sản tinh thần quí báu của đất nước còn lại như câu nó của Ông Andre’ Malraux: “Văn hóa là những gì còn lại sau khi mất!”

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here