KIỀU TRỞ THÀNH MỆNH PHỤ PHU NHÂN – ÂN ĐỀN OÁN TRẢ

0
17

VÕ VĂN BẰNG

Sau hai năm từ giả nàng Kiều để lên đường khôi phục sự nghiệp, Từ Hải đã đạt được chí nguyện và trở về làm lễ nghênh rước nàng Kiều về bản doanh.
Sáng hôm ấy, hàng ngàn binh sĩ và mười vị tướng lảnh đến vây quanh nhà Kiều, hô to: Vương phu nhân ! xin mở cửa, chúng tôi vâng lênh của Từ Minh Sơn đến rước phu nhân vu quy!
Nàng mở cánh cửa, dõng dạc bước ra và nói:
– Chính thị ta đây! còn Thiên Tuế ở chỗ nào ?
Các tướng sĩ quì gối, cúi đầu bái kiến và thưa rằng:
– Hiện thời, Thiên Tuế đóng binh ở thành Đại Hoàng, đương đợi phu nhân tại đó.
Phu nhân nói tiếp:
– Thế thì chúng ta chuẩn bị đi ngay!
Các Cung Nga liền dâng áo mũ để Phu nhân ăn vận chỉnh tể rồi dìu nàng lên xe loan. Đoàn xa giá đông đảo, cờ xí bay phất phới ngập đường, tiếng loa phóng thanh chúc tụng cùng với tiền hô hậu ủng. Sau ba ngày đường, khi gần tới nơi thì mấy chục kỵ mã từ cửa thành phi tới tiếp ứng. Một số trở về để báo tin đoàn rước sắp đến…
Bỗng chốc, từ xa người ta thấy hỉnh dáng một người ngồi trên lưng ngựa, đầu đội mũ tam sơn, mình mặc áo đại hồng bào, lưng thắt đai ngọc, chân đi đôi ủng, từ từ tiến đến.
Khi giáp mặt, mọi người tung hô:
– Từ Minh Sơn vạn tuế! vạn vạn tuế! van dậy cả một góc trời!
Thiên Tuế vẩy tay chào đón mọi người và nở nụ cười dòn dã nhắc lại câu nói với Kiều từ thuở ban đầu gặp gỡ:
Cười rằng: “Cá nước duyên ưa
Nhớ lời nói những bao giờ hay không?
Anh hùng mới biết anh hùng
Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?”.
Chàng và nàng cỡi hai tuấn mã song song, lỏng buông tay khấu, tiến vào cửa thành. Hai hình ành tuyệt diệu giữa “chốn ba quan” mà nhà đạo diễn Nguyễn Du đã phát họa để nói lên ý nghĩa của “Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên”.
Khi vào cửa thành, tiếng súng đại bác nổ liên hồi, cờ xí phơi phới tung bay trên mặt thành. Hàng tướng sĩ và quân lính nghiêm chỉnh trong hàng ngũ đón tiếp và tung lên những lời chúc tụng van lừng!.
Thúy Kiều đã trở thành một mệnh phụ phu nhân bằng “cặp mắt tinh đời”, phát xuất tấm lòng trung thưc, khiên cung và trí óc thông minh thiên phú!
Cụ Nguyễn Du đã dùng tiếng mẹ đẻ như động từ “liếc”, “ưa” để diễn tả sự cảm ứng đồng điệu của đôi bên:
“Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Thật là “Tâm đắc tương cờ”, chỉ qua một câu đáp lại về điển tích “Bình Nguyên Quân” mà Từ Hải đã khen Kiều là người “Tri kỹ, tri bỉ”:
-Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
ĐỀN ƠN, TRẢ OÁN:
Thúy Kiều nhớ lại lúc bỉ cực, ai là người đã giúp đỡ và cứu nạn cho mình ? Ai là người hại mình, làm cho mình dở sống dở chết mà nàng đã gánh chiu từ Vô Tích đến Lâm Truy
Nàng đã kể lại những nỗi niềm bi thảm nói trên cho Từ Hải nghe…
Chàng nổi giân đùng đùng liền nghiêm quân, tuyển tướng và ra lệnh đem đạo quân đi tầm nã từ Vô Tích đến Lâm Truy, bắt cho được các tên phụ bạc trước đây để tra hỏi và bắt giữ cả gia đình họ Thúc, đồng thời rước mời các vị ân nhân như mụ quản gia ở nhà Hoạn bà và sư Giác Duyên…
Buổi xét xử diễn ra rất uy nghi, từ trong ra ngoài, cờ xí lộng lẫy. Ba hồi trống cất lên, tướng sĩ hàng ngũ nghiêm túc.
Từ Công ngồi cạnh phu nhân và giao trọn quyền cho nàng xét sử việc đền ơn, trả oán.
Trước hết,Vương Phu Nhân đứng dậy tạ ơn Từ Công và nói rằng:
– Nhờ uy đức của Đại vương mà hôm nay thiếp đã rữa sạch ân oán, dù có thịt nát xương tan, thiếp cũng không thể báo đáp ơn sâu dày nầy được!.
Tiếp đến Phu Nhân cho gươm mời đến Thúc Lang. Chàng nhìn Thúy Kiều với vẻ mặt tái mét, thân hình run cầm cập, nàng nói:
– Chàng còn nhớ tôi không! người cũ ở Lâm Truy? Tuy sao Sâm và sao Thương không bao giờ gặp nhau nhưng tôi đây xem “nghĩa trọng nghìn non”…
Nàng liền sai lấy trăm cuốn gấm và nghìn cân bạc để trao tặng…
Danh sách báo ân tiếp đến là Hoạn gia và sư trưởng Giác Duyên. Khi hai vị đến trình diện thi nàng đứng dậy dắt tay mời ngồi lên phía trên mà nói rằng:
– Hãy nhìn mặt tôi, có phải là Hoa nô và Trạc Tuyền năm xưa không!?
Nhớ khi lỡ bước, sẩy vời, quí vị đã cứu vớt tôi, dù có núi vàng cũng không thể đền bù được tấm lòng thương mến của quí vị. Rồi nàng mời hai vị ngồi lại để xem nàng xét xử kẻ hại nàng.
Bây giờ là báo oán:
Các Tướng đem nộp những người đã bắt được.Trước tiên là Hoạn Thư. Khi giáp mặt Thúy Kiều thì Hoạn Thư “hồn xiêu phách lạc” gục đầu dưới trướng và kêu ca:
“Rằng: “Tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình”…
Và, nói tiếp:
– Xin Phu nhân nghĩ cho rằng: “Khi Phu nhân chép kinh ở Quan Âm Các cũng như khi ra khỏi cửa chùa, thế là đã dứt tình với Thúc Sinh, tôi không cần phải đuổi theo. Vậy xin phu nhân nghĩ đến tâm trạng của người đàn bà: “Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai” mà tha tội chết cho tôi.
Nghe xong, Phu nhân khen:
“Khôn ngoan đến mức, nói năng phải lời”
Rồi truyền lênh tha ngay…
Việc đền ân trả oán của Phu Nhân được chấm dứt ngang đây…
Ngoài ra còn có quân lệnh xét xử tội trạng về xã hội mà Thúy Kiều không có ý kiến được!
Theo luật pháp và luật tự nhiên “nhân quả” mà cụ Nguyễn Du đã khéo léo diễn tả đoạn thơ sau đây:
“Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao
Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta?
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Hà
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh
Tú bà với Mã Giám Sinh
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?
Lệnh quân truyền xuống nội đào
Thề sao, thì lại cứ sao, truyền hình
Máu rơi, thịt nát, tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời!
Cho hay muôn sự tại trời
Phụ người, chẳng bỏ, khi người phụ ta”…

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here