CÁI GHEN CỦA HOẠN THƯ

0
42

Võ Văn Bằng

Thúc Sinh nghe lời Thúy Kiều về thăm vợ cả và công khai mối tình của mình với vợ cả cho được minh bạch. Đó là một quyết định sáng suốt của Kiều đã dựa trên pháp lý và truyền thống của gia đình:
“Đôi ta chút nghĩa đèo bồng
Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh
Dù cho sóng gió bất bình
Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi
Hơn điều giấu ngược, giấu xuôi
Lại mang những việc tầy trời về sau
Thương nhau xin nhớ lời nhau”…
Trong buổi tiển đưa Thúc Sinh, tác giả đã diễn tả một tình cảnh đầy xúc động! kẻ ở người đi đều bịn rịn với nhau trước bầu trời sắp tắt, cảnh vật đang nhuốm màu mờ ảo của bóng đêm:
“Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng Phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặn đường”…
Thúc Sinh về đến nhà, trước sự đón tiếp ân cần của vợ cả, chàng tưởng chừng như bà không hay biết gì về chuyện Thúy Kiều và chàng nênchàng quyết định giấu luôn! Sự thật Hoạn Thư đã biết hết mọi việc xẩy ra ở Lâm Truy nhưng nàng giả vờ không hay biết gì để xem thái độ của chồng mình ra sao? và nàng cũng nghĩ rằng vì danh dự và uy tín chung của gia đình đôi bên, nàng sẽ sẵn sàng chấp nhận lời yêu cầu của chồng, nếu chàng tự thú:
“Ví bằng thú thật cùng ta
Cũng dong kẻ dưới, mới là lượng trên”…
Nhưng tiếc thay! Thúc Sinh đã im hơi, lặng tiếng suốt trong thời gian về thăm nhà, làm cho Hoạn Thư:
“lửa tâm càng dập, càng nồng”
Và, khiến nàng nghĩ ra mưu kế:
“Làm cho nhìn chẳng được nhau
Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên
Làm cho trông thấy nhỡn tiền
Cho người thăm ván, bán thuyền biết tay!”
Hôm ấy cũng gần đến ngày trở về, Hoạn Thư thấy chàng có vẻ nôn na chuẩn bị hành lý nên nàng nói với chàng có thể trở về sớm hơn để phụ giúp cho Thúc Ông:
“Tình riêng chưa dám rỉ răng
Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:
“Cách năm mây bạc xa xa
Lâm Truy cũng phải tính mà thần hôn
Được lời như cổi tấc son
Vó câu thẳng ruổi, nước non quê người”
Như đánh đúng vào tâm lý của Thúc Sinh, sáng hôm sau chàng hồ hởi từ giả vợ, lên đường về Lâm Chuy…
Đúng với kế hoạch của Hoạn Thư, nàng cho một số gia nhân đắc lực và tín cẩn như Hoạn Khuyển và Hoạn Ưng thuê ghe vươt biển đi theo đường tắt, nhanh hơn một nửa thời gian so với đường trường xe ngựa mà Thúc Sinh đang đi. Như vậy, bọn Ưng và Khuyển cùng một số gia nhân đến trước gần nửa tháng…
Khi đến nơi, chúng tìm đường đột nhập vào nhà, bắt cóc Thúy Kiều trói lại, đánh thuốc mê rồi đưa lên ngựa, mang xuống thuyền giữa đêm khuya … Trước khi đi, bọn chúng đốt nhà và quẳng một xác chết trôi trên sông vào đám lữa mà chúng đã nhặt để phi tang và đánh lạc hướng là Kiều đã chết cháy!.
Đúng như vậy, khi nghe tin nhà Kiều bị cháy, Thúc Ông vội đến thăm thì thấy một xác cháy đen nằm co quắp trên đóng tro tàn. Thúc ông thương tiếc liền sắm quan tài chôn cất tử tế và lập bàn thờ cúng quảy tại nhà.
Đến lúc Thúc Sinh về đến nhà, chàng thấy nhà mình trở nên đống tro tàn, chàng liền vội đến nhà Thúc Ông mới hay là nhà đã cháy cùng với Thúy Kiều đã chết cháy trong nhà, không thoát ra được. Chàng gieo mình khóc than thảm thiết trước bàn thờ Thúy Kiều :
“Gieo mình, vật vã, khóc than
Con người thế ấy, thác oan thế nầy!
Chắc rằng mai trúc lại vầy
Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!”
Nổi buồn nào rồi cũng được khuây khỏa qua thời gian, một năm sau Thúc Sinh trở về thăm gia đình…
Lần nầy, chàng có vẻ trầm tư, không mấy vui vẻ như những lần trước, khiến Hoạn Thư phải tỏ lời chia xẻ, hỏi han và chàng đã tìm cách tránh né.
Sự thật, Thúy Kiều chưa chết, nàng bị bọn Ưng, Khuyển bắt cóc đem về giao cho Hoạn Bà để hành hạ một thời gian cho thuần phục rồi đưa lên nhà Hoạn Thư để giúp việc. Lúc nầy nàng được gọi tên là Hoa nô.
Khi về đến nhà, Hoạn Thư mừng rỡ chồng về được bình an nên tối hôm ấy, nàng mở tiệc thiết đãi chồng!
Thúc Sinh không ngờ tấm bi hài kịch lại xẩy ra trong bữa tiệc khi Hoạn Thư ra lệnh gọi Hoa nô ra lạy và dâng rươu chúc mừng ông chủ gia đình…
Bất thần, hai người nhìn ra nhau, ông chủ và con ở hoảng hồn thất vía như dại như điên!:
“Rõ ràng thật lứa đôi ta
Làm cho con ở, chúa nhà đôi nơi
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm, giết người không dao…”
Hoạn Thư bắt Hoa nô quì xuống dâng chén rượu hai tay trước mặt ông chủ. Thúc Sinh có vẻ miễn cưỡng không đỡ lấy chén rượu nên bị bà chủ giếc mắng Hoa nô là thất lễ, không làm cho chồng bà không hài lòng. Có lúc chàng cúi mặt, rơi lệ liền bị bà chủ tra vấn và ông chủ đã nhanh nhẹn trả lời:
“Nhớ mẹ vừa mới hết tang!”.
Cũng trong đêm ấy, Hoạn Thư bắt Kiều diễn lại bản đàn mà nàng đã làm cho chồng bà mê mẫn tâm thần ở đất Lâm Truy:
“Bốn dây như khóc như than
Khiến người trong cuộc cũng tan nát lòng
Cũng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm!…”
Nghe bản đàn réo rắt não nuột khiến Thúc Sinh tràn trề nước mắt, chàng không chịu nỗi nên bảo với vợ cáo lui vì quá say! Hoạn Thư biết ý liền mắng Hoa nô thậm tệ đã đem cái buồn cho chồng mình trong lúc bà mở tiệc vui ! nên Thúc Sinh ở trong tình trạng lưỡng lự “khó ở, khó đi”…
Đêm đã về khuya, sau khi bà chủ hành hạ ông chủ và con ở “cất đầu chẳng lên”,..
Đêm đã khuya, hai ông bà thong dong đi vào phòng ngủ, Hoa nô phải theo sau vào phòng để hầu hạ chăn màn, áo quần, giày dép và đứng đó đợi lệnh cho đến khi hai ông bà chủ lên gường êm, nệm ấp, “con ở” mới được phép lui ra… Màn tiếp theo, Hoan Thư nghĩ ra một kế thâm hiểm: “Lấy gậy ông đập lưng ông”, liền bàn với chồng mở cho Hoa nô một đường thoát bằng cách làm bản tự khai, nêu rõ nguyện vọng của hắn để bà xét…
Sau khi đọc tờ tường thuật của Hoa nô, bà chủ tỏ thái độ thương hại và cho phép vào tu và chép Kinh ở Quan Âm Các nằm trong khuôn viên nhà. Nàng được quy y và pháp danh là Trạc Tuyền:
“Áo xanh đổi lấy cà sa
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền…”
Cái khôn khéo của Hoạn Thư là nàng giải quyết theo từng giai đoạn, thích hợp với từng hoàn cảnh và đối tượng trong kế nầy kế khác bổ túc với nhau “Tương kế tựu tế” như trường hợp để Trạc Tuyền ở trong Quan Âm Các là chưa ổn!…
Đúng vậy, hôm ấy Hoạn Thư gài bẩy, giả vờ lên xe về thăm quê mẹ…
Đi được một đoạn, nàng cho xe quay trở về. Trong khi ấy, Thúc Sinh đã lén sang Quan Âm Các, hai người gặp nhau, khóc lóc thảm thiết:
“Thúc Sinh phân bua, chịu lỗi không nghe lời khuyên của Kiều để hôm nay phải làm cho nàng điêu đứng khổ nhục! giờ đây chàng xin dứt tình với nỗi niềm đau đớn không nguôi và khuyên nàng nên trốn thoát nơi nầy càng sớm càng tốt để khỏi rước họa vào thân”, trong khi Hoạn Thư đứng sau cánh cửa, lén nghe hết mọi chuyện, đắc ý mĩm cười đã trúng mưu của nàng.
Nàng bắt gặp quả tang hai người đang trò chuyện thân mật. Thay vì giân dữ, to tiếng, nàng lại vui vẻ, ôn tồn hỏi chồng vừa mới ra thăm chùa và khen ni cô Trạc Tuyền chép kinh đẹp! Ông bà chủ ngồi uống trà rổi thanh thản ra về, xem như không có chuyện gì xẩy ra.
Nhưng đêm ấy, Ni cô Trạc Tuyền thao thức không ngủ được… Đến canh ba, cô quyết định trốn khỏi chùa và mang theo chuông vàng, khánh bạc để hộ thân! :
“Nghĩ đi, nghĩ lại quanh co
Phật tiền, sẵn có mọi đồ kim ngân
Bên mình giắt để hộ thân
Lần nghe canh đã một phần trống ba
Cất mình qua ngọn tường hoa
Lần đường theo bóng trăng tà về tây”…
Cụ Nguyễn Du đã đưa cái ghen của Hoạn Thư lên hàng “nhà ghen”, tương đương với nhà chính trị, có chiến thuật, chiến lược với ân uy rõ ràng:
“Bây giờ mới rõ tâm hơi
Máu ghen, đâu có lạ đời nhà ghen
Chước đâu rẽ thúy, chia uyên!
Ai ra đường ấy, ai nhìn được ai!
Đến khi Hoạn Thư đã chiến thắng, dành được chồng về tay mình rồi thì nàng chẳng cần cho người đuổi theo Thúy Kiều để lấy chuông vàng, khánh bạc mà nàng đã đánh cắp!
( Hồi năm 1963 tại Sai Gòn “VN” có vụ đánh ghen “tạt acit vào mặt vũ nữ Cẩn Nhung” thật là tàn nhẫn, vô nhân đạo! đời đời nguyền rủa!)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here