KIỀU MẮC LỪA SỞ KHANH

0
53

Võ Văn Bằng

Thúy Kiều ngồi trước lầu Ngưng Bích trông ra bốn bề bát ngát. Xa xa, dãy núi mờ dần trong màn đêm buông xuống, chỉ còn le lói dãy cát vàng ở cồn nọ và đám bụi hồng ở dặm kia…
Trước cảnh tượng trống trải, cô đơn ấy, chỉ có ánh trăng đến với nàng, làm nàng nhớ đến người yêu Kim Trọng với những lời thề dưới trăng:
“Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai mặt một lời song song
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương “

Giờ đây, nàng chỉ biết than thân trách phận:
“Tấm son gọt rửa bao giờ cho phai!”…
Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, tủi phận mình, nỗi đau xót ấy được Thi hào Nguyễn Du diễn tả như một bức tranh Thủy mặc tuyệt vời:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vè non xa, tấm trăng gần, ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình, nửa cảnh, như chia tấm lòng
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luốn hãy rày trông mai chờ.
Bên trời góc biển bơ vơ
Tấm son gọt rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc Tử cũng vừa người ôm”…
“Lầu Ngưng Bích khóa xuân”, cái tên mới nghe qua tưởng chừng tuổi xuân của nữ giới được giữ lại ở “khuê phòng” nhưng tác giả dụng ý dùng điển tích “Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều” như một nhà tù giam lỏng…Nỗi đoạn trường ấy, Thúy Kiều thường lấy trăng dệt nên thơ để giải khuây nỗi lòng!
Một hôm, tình cờ Kiều thốt lên bốn câu thơ thì thoắt nghe ở bên kia tường có tiếng họa vần, nàng liền đến vén rèm châu, thấy:
“Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng.
Nghĩ ra cũng mạch thư hương Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Bóng nga thấp thoáng dưới mành
Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai
“Than ôi! Sắc nước hương trời
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?
Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa?
Nổi gan riêng giận trời già
Lòng nầy ai tỏ cho ta hởi lòng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng?
Ra tay tháo củi, sổ lồng như chơi!”…
Qua những lời nói ngọt ngào và tự đắc, cùng với lời hứa hão huyền nào là chàng có ngựa truy phong, có đàn em sức vóc khõe mạnh. Kiều đoán biết ngay là “thùng rỗng kêu to”, nhưng đứng trước đường cùng, nàng để cho định mệnh đẩy đưa:
“Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu!”.
Đêm hôm ấy, vào lúc canh tàn, tiếng gà xào xạc gáy sáng, Sở Khanh dẫn Kiều lén xuống lầu, lên ngưa, tiến lên đường cùng phía sau là đoàn tùy tùng . Khi rẽ vào cánh rừng hiu quanh, Sở Khanh bỏ nàng dưới gốc cây. Nàng run sợ nghĩ vẫn vơ thì giựt mình thấy Sở Khanh biến dạng cùng với số người đi theo. chỉ còn một mình nàng trơ trọi giữa rừng già…
Bỗng chốc, một đoàn người vây bủa trước sau nàng với vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời rồi liền mụ Tú Bà xuất hiện với vẻ mặt hung hăng không nói nên lời, chỉ lấy tay đánh đập túi bụi vào nàng! Nàng chỉ ôm đầu chịu tội và năng nỉ van xin:
“Rằng:
“Tôi chút phận đàn bà
Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây
Bấy giờ sống thác ở tay
Thân nầy đã đến thế nầy thì thôi!
Nhưng tôi có sá chi tôi Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
Nghe Kiều thành khẩn van xin tha tội, mụ Tú Bà thắng thế đặt điều kiện với Kiều là có người bảo lảnh, làm tờ khai báo tội lỗi của mình và cam kết trở về lâu xanh.
Trước khi lìa nhà theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều đã thủ cái dao trong túi tay áo để tự sát khi đến đường cùng. Lần nầy, Kiều không có ý định đó nữa vì mình đã bị mắc mưu của mụ đã thuê Sở Khanh 30 lạng bạc để dụ dỗ nàng tháo chạy…Và giờ đây, sau hai lần kinh nghiệm chua cay, nàng chấp nhận:
“Thân lương bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa!
*** ĐIỂN TÍCH:
“ Lầu Ngưng Bích khóa xuân”: Tác giả ám chỉ Kiều bị nhốt trong lầu Ngưng Bích. Còn nghĩa “Khóa Xuân”, trong câu “Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều”do điển tích sau đây:
Đồng Tước là tên một cái lầu do Tào Tháo đặt tên và khi đã xây dựng xong thì con trai của Tào Tháo là Tào Thục có làm bài phú, trong đó có hai câu:
“Liên nhị kiều ư đông tây hề
Nhược trưng không chi nhuế đẳng”
(Bắt liền hai cầu ờ đông tây như cái cầu vồng nổi lưng trời).
Nhì Kiều là tên của hai chị em sống ở Đông Ngô “thời Tam Quốc-Trung Hoa”, danh tính của hai chị em không đươc rõ nhưng có tiếng hoa khôi nên người chị được gọi là Đại Kiều, vợ của Tôn Sách, người lập ra Đông Ngô và em là Tiểu Kiều, vợ của Chu Du, danh tướng của Tôn Sách và Tôn Quyền.
Để khích lệ Chu Du, đô đốc nhà Ngô quyết tâm đánh Tào Tháo
Khổng Minh quân sư nhà Thục lập kế chọc tức viên tướng nầy nên ông nói với Chu Du rằng: “Tào Tháo lâu nay có ý định đánh bắt nhị Kiều về nhốt tại đền Đồng Tước để vui thú tuổi già!”
Để Chu Du tin là thật, Khổng Minh liền dẫn bài thơ của TàoThực nhưng cố tình đọc sai một vài chữ nên Chu Du tưởng thật, đã chạm đến tự ái và danh dự đời tư.
Do đó, Chu Du dốc toàn lực đánh thắng Tào Tháo trên sông Trường Giang
Đúng vậy với nét bút nhẹ nhàng và trong sáng như một bức tranh “thủy mặc” nhưng sống động, hiện rõ “hồn thơ” trong câu đầu, độc giả thấy được bên trong lầu, tuổi xuân bị khóa chặt do điển tích
“Khóa xuân hai Kiều”
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm long.
Xem tiếp số 675 phát hành thứ bảy ngày 12/6/2021

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here