NÊN ĂN CÁ THẾ NÀO ĐỂ TỐT CHO SỨC KHOẺ, TRÍ NÃO?

0
42

Chúng ta đều biết cá được coi là một loại thực phẩm lành mạnh, nhưng phụ nữ mang thai lại được khuyến cáo nên hạn chế ăn cá. Lợi ích sức khỏe từ việc ăn cá có lớn hơn so với những rủi ro không, đặc biệt là khi nguồn cá ngày càng cạn kiệt?
Kể từ năm 1974 đến nay, Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc nói rằng trữ lượng hải sản đạt tiêu chuẩn an toàn bền vững sinh học đã giảm từ 90% xuống chỉ còn dưới 66%.
Trong khi đó, những lo ngại về thủy ngân và các chất ô nhiễm khác trong hải sản dẫn đến khuyến cáo phụ nữ đang mang thai hoặc đang cho con bú nên hạn chế ăn một số loài cá.
Vậy ăn cá thì tốt hơn hay gây hại nhiều hơn cho sức khoẻ?

Nhiễm độc kim loại nặng
Trong những thập kỷ gần đây, một trong những mối quan ngại lớn nhất là hàm lượng chất ô nhiễm và kim loại có thể gây hại tồn dư trong hải sản.
Một nguy cơ hàng đầu là chất polychlorinated biphenyls (PCB). Mặc dù đã bị cấm vào những năm 1980, nhưng loại hóa chất công nghiệp này đã được sử dụng trên toàn thế giới với số lượng lớn và vẫn tồn đọng dư lượng trong đất và nước.
Chúng có liên quan đến một loạt các tác động tiêu cực đến sức khỏe trên mọi thứ, từ hệ thống miễn dịch đến não bộ.
Cơ quan y tế công của Anh (NHS) khuyến cáo phụ nữ mang thai và cho con bú nên hạn chế ăn các loài hải sản có nguy cơ chứa nhiều PCB và các chất ô nhiễm khác như dioxin, xuống mức hai phần ăn mỗi tuần.
Những loài này bao gồm các loài cá nhiều mỡ béo như cá hồi, cá trích, và các loài giáp xác không béo như cua, cá vược.

Axit béo
Việc ăn các loại cá béo, trong đó có cá hồi, cá ngừ, cá trích và cá nục, được cho là có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nhờ vào các chất omega 3, axit eicosapentaenoic (EPA), và axit docosahexaenoic (DHA). Một số nguồn omega 3 cũng có từ thực vật, chẳng hạn như hạt lanh và quả óc chó, rất giàu loại axit béo thứ ba là ALA.
Một nghiên cứu năm 2014 kết luận rằng lợi ích sức khỏe tim mạch của omega 3 có nguồn gốc thực vật có thể tương đương với EPA và DHA, nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào hỗ trợ cho kết luận này. Tuy nhiên, ta có thể tìm thấy cả EPA và DHA trong các loại thực phẩm bổ sung chế biến từ tảo biển và trong rong biển ăn được.
Lee Hooper, một trong những người tham gia thực hiện nghiên cứu trên cho WHO, từ Đại học East Anglia, nói “ Trong số khoảng 334 người uống bổ sung chất omega 3 trong thời gian từ bốn đến năm năm, thì không có ai chết do bệnh mạch vành tim “

Thực phẩm bổ não
Ngoài omega 3, cá có các chất dinh dưỡng có lợi khác, bao gồm selen, bảo vệ tế bào khỏi bị tổn hại và nhiễm trùng; iốt, hỗ trợ quá trình trao đổi chất lành mạnh; và protein.
Từ lâu, cá đã được ca ngợi là “thực phẩm bổ não”. Một nghiên cứu gần đây cho thấy điều này không chỉ nhờ vào hàm lượng omega 3 của nó – mặc dù các nghiên cứu cũng đã tìm thấy mối liên hệ giữa omega 3 và sự chậm lại của chứng suy giảm nhận thức.
Các nhà nghiên cứu đã so sánh thói quen ăn cá và kết quả chụp cộng hưởng từ (quét MRI) trung bình của 163 người tham gia ở độ tuổi cuối 70. Họ phát hiện ra rằng, so với những người tham gia không ăn cá, những người ăn cá hàng tuần có thể tích não lớn hơn – chủ yếu là ở thùy trán – nơi quan trọng đối với sự tập trung, và ở thùy thái dương – vùng thiết yếu phụ trách trí nhớ, học tập và nhận thức.
Một lý do khác khiến cá có thể tốt cho sức khỏe là vì nó thay thế các loại thực phẩm kém lành mạnh hơn trong chế độ ăn của chúng ta. “Nếu chúng ta ăn nhiều cá hơn, chúng ta có xu hướng ăn ít những thứ khác hơn,” Hooper nói.
Mọi người có thể tự cân nhắc bằng cách chọn các loài hải sản có mức độ an toàn bền vững sinh thái nhất hiện có. Các hướng dẫn như của Hiệp hội Bảo tồn Biển cho thấy các loài ngon nhất, với 50 trong số 133 loài được liệt kê là những lựa chọn “tốt”, bền vững. Thật may mắn khi số đó bao gồm hầu như tất cả những loài được ưa chuộng phổ biến như cá hồi nuôi, tôm.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here