PHẨM THÍ DỤ

0
266

Võ Văn Bằng

PHẨM THÍ DỤ (La Parabole)

(Eugene Burnouf dịch Phẩm Thí Dụ “Hán văn” ra Pháp văn là La Parabole có nghĩa là tương đương, gần giống, giả thiết (toán học đường Parabole). Example cũng có nghĩa vật so sánh, tương đương, thí dụ (nghĩa hẹp hơn).

LỜI KINH:

Lúc bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng:

“Nay con theo đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp nầy, trong lòng vui thích được đều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp thế này, thấy các vị Bồ Tát được thọ ký thành Phật mà chúng con chẳng được dự việc đó tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến của Như Lai.

Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vậy: Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp tiểu thừa mà tế độ cho? Đó la lỗi của chúng con chớ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác thì chắc do pháp Đại thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp vội tin nhận suy ngẫm để chứng lấy.

Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thư thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được pháp phần của Phật…

Sau khi ngài Xá Lợi Phất dùng kệ tuyên lại nghĩa trên , đức Phật bảo ngài rằng:

“Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa môn, Bà la môn mà nói. Ta xưa ở trong hàng trời, người, Sa môn, Bà la môn mà. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta”

Xá Lợi Phất! Ta thuở xưa dạy ông chi nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là “Diệu Pháp Liên Hoa” là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm.

Xá Lợi Phất! Ông đến đời vi lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư  nghì kiếp, cúng dường biết bao ng- hìn muôn ức Phật, phụng trì chánh  pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ Tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ , Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Nước tên Ly Cấu, cõi đó bằng phẳng, thanh tịnh, đẹp đẽ, an ổn, giài vui, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có hoa trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh. Xá Lợi Phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa, kiếp đó tên là “Đại Bảo Trang Nghiêm”. Ví sao gọi là Đại Bảo Trang Nghiêm? Vì trong cõi đó dùng Bồ Tát làm “Đại Bảo” vậy. Các Bồ Tát trong số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghì, tính kể hay thí dụ đều không đếm được., chẳng phải sức trí huệ của Phật không ai có thể biết được.. Khi muốn đi thì có hoa đỡ chân.

Các vị Bồ Tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh hằng được các Phật khen. Thường tu trí huệ của Phật đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững bậc Bồ Tát như thế, khắp đầy nước đó.

Xá Lơi Phất! đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký vô thượng chánh đẳng chánh giác cho Kiên Mãn Bồ Tát mà bảo các Tỳ kheo: Ông Kiên Mãn Bồ Tát nầy kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai. Ứng cúng, Chánh biến tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây.

Xá Lợi Phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp”

Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ…

Bấy giờ, Xá Lợi Phất bạch rằng: “Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng : “Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết rốt ráo Niết Bàn”. Các vị hữu học, vô học đây cũng đều la tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v… nói là được Niết Bàn, mà nay ở trước Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi dối.

Khi ấy, Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: Ta trước đâu không nói rằng : “Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiên mà nói pháp đều là đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác ư ?

Các điều nói đó đều vì dạy Bồ Tát vậy. Nhưng Xá Lợi Phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa  đó, những người có trí do thí dụ mà được hiểu”…

MẠN ĐÀM

-Chấp trước ?

-Thế nào là Kiếp ?

– Hữu học và Vô hoc là gì ?

  *Chấp trước là giữ chặc, không chịu buông bỏ. gồm có chấp ngã và chấp pháp. Chấp ngã là chấp thân xác và tâm hồn của con người đều có thật. Nhưng thực ra, thân xác tứ đại nầy do đất, nước, gió, lửa tạo thành, không có gì gọi là thực. Đó là điều hiển nhiên (Sinh, trụ, hoại, diệt), các bụi trở về với các bụi! có gì là thực đâu ? Còn tâm hồn của chúng ta thay đổi liên miên từ lúc bé đến lớn, từ giây phút nầy qua giây phút khác nên người ta thường gọi “Tâm viên, ý mã”(Tâm như loài vượn, khỉ, ý như ngựa)

Chấp pháp là chấp mọi việc trên đời nầy tồn tại mãi mãi. Sự thật, muôn pháp trên Thế gian nầy, muôn việc trên cõi đời nầy, từ vật chất đến tinh thần đều biến chuyển, đổi thay không ngừng kể cả sơn hà đại địa như biển xanh biến thành nương dâu (Thương hải biến vi tang điền)

  *Thế nào là kiếp?

Kiếp dịch âm là “Kiếp ba” bằng chữ Phạn “Kalpa”, tên goi chung một đơn vị thời gian của Ấn Độ cỗ đại.

Kiếp có 3 cấp:

1-Tiểu kiếp: Tính theo tuổi thọ- Tám vạn bốn nghin năm được gọi  là trường thọ- Mỗi một trăm năm giảm thọ một tuổi, giảm tới 10 tuổi thì gọi là giảm kiếp. Từ 10 tuổi, mỗi một trăm năm lại gia tăng một tuổi tới tám vạn bốn nghìn năm, xưng là tăng kiếp – Như thế,quá trình một tăng một giảm gọi chung là Tiểu kiếp.

2- Trung kiếp: Trãi qua 20 tiểu kiếp là trung kiếp. Dựa vào vị trí của địa cầu thì phân  thành 4 giai đoạn(Sinh, trụ, hoại, không). Thời gian của mỗi giai đoạn là 20 tiểu kiếp. Chỉ có giai đoạnđầu thì nhân sinh mới có thể sinh tồn. Giai đoạn thành là từ thể khí chuyển sang thể lỏng, từ lỏng mà đông lại nên con người không chịu nỗi. Sau giai đoạn tụ đến phá “hoại” trãi qua 49 đại hỏa hoạn, 7 lần đại hồng thủy, 1 lân gió to phá lỏng toàn bộ bên trong, địa cầu biến mất. Tiếp tới là giai đoạn Không, trãi qua 20 tiểu kiếp, dần hình thành một địa cầu mới, tiến vào giai đoạn Thành. Bốn giai đoạn nầy là 4 trung Kiếp.

3- Đại Kiếp: Trãi qua 4 trung kiếp là một đại kiếp. Sau đó là một đại kiếp nạn.. Trong giai đoạn phá kiếp do hỏa hoạn, đại hồng thủy hay gió lớn thì cũng không thể phạm tới địa ngục nên tới đại nạn kiếp mới trừ bỏ tất cả, tất thảy phá đi làm lại, đổi mới, chuyển kiếp. Sở dĩ kinh Phật chia thời gian thành Kiếp là để tự nhủ về ý niệm thời gian, sinh mênh của con người quá ngắn ngủi như một chớp mắt so với sơn hà đại đia nên phải kính quý và tôn trọng lẫn nhau trong sự sống trong thân người để trở về nguồn cội Phật tánh

  *Hữu học- Vô hoc là hai danh từ thường gặp trong Phật pháp’

Hữu học gồm bốn thánh quả: Tu đà hoàn “sơ quả”, Tu đà hàm “Nhị quả”, A na hàm “tam quả” và tứ quả là A la hán.

Vô học: Bậc vô học là bậc có sẵn căn cơ, tích lủy từ nhiều kiếp tu luyện. Khi gặp duyên thì trí huệ sáng ngời. Người đời thường gọi lả thông minh xuất chúng hay có giác quan thứ sáu như trường hợp Lục Tổ Huệ Năng, thợ rừng, không biết chữ, nhưng khi nghe được câu kinh Kim Cang “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền liễu ngộ..

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here