KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

0
361
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Tiếp theo kỳ trước

Chủ đề:

Đức Phật đã đưa ra một chủ để “Phẩn Tự” (Sujet) gồm có 3 phần:

-Kinh vô lượng nghĩa

-Nhập chánh dịnh vô lượng nghĩa xứ -Phóng quang hiện cảnh.

Địa điểm:

Tại núi Kỳ xà quật “núi Linh Thứu”

Hội chúng:

12.000 đại Tỳ khưu và đại A la hán, 2.000 bậc hữu học và vô học, 6.000 Tỳ khưu ni, 80.000 Bồ tát, 20.000 chư Thiên, 8 Long vương và quyến thuộc, Vua A xà Thế và tùy tùng.

Thời gian:

Một thời. Sau khi “tứ chúng” cúng dường và xứng tán Phật xong, Phật nói kinh “vô lượng nghĩa” rồi nhập vào chánh định “vô lượng nghĩa xứ”, thân tâm không lay động…

Kinh là lời Phật nói, là phương tiện độ sanh – Khi Phật nói xong thì nhập vào chánh định “Vô lượng nghĩa xứ” thân tâm không lay động Kế đó, từ chòm lông trắng ở giữa đôi mày, Phật phóng một luồng hào quang chiếu khắp một muôn tám nghìn thế giới ở phương Đông, dưới thấu địa ngục A tỳ, trên suốt Cõi trời Sắc cứu cánh.

Toàn pháp hội đều trông thấy ở các Thế giới đó:

– 6 loài chúng sanh (thiên, nhân, a tu la, địa ngục, ngọa qui, súc sanh)

– Các đức Phật đang nói pháp và tứ chúng.

– Các vị Bồ tát đang hành hạnh Bồ tát.

– Lúc Phật nhập Niết bàn.

-Lúc Phật nhập Niết bàn xong, việc xây tháp phụng thờ xá lợi.

Bồ tát Di Lặc và tứ chúng đều lấy làm lạ điềm lành này. Thay mặt cho tất cả, Di Lặc xin Bồ tát Văn Thù là bậc xuất chúng, giải thích cho hiểu.

Phỏng theo “Pháp Hoa huyền nghĩa” của Chánh Trí Mai Thọ Truyền: Văn Thù Sư Lợi là một vị đại trí, có thần thông tột bực nên Bồ Tát Di Lặc nhờ giải thích sự kiện hiện cảnh.

Văn Thù đáp: “Theo chỗ tôi biết thì Thế Tôn sắp diễn một “pháp lớn”. Rồi Văn Thù thuật lại một chuyên xưa như sau: Ở vô số kiếp xa xưa, có hai muôn đức Phật nối nhau, đồng một hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh, và đồng một họ là Phả La Đọa, mỗi ngài đều đầy đủ “mười hiệu” và pháp của các Ngài nói ra từ đoạn đầu đến đoạn giữa và đoạn chót đều lành như nhau.

Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh chót, lúc chưa xuất gia, có 8 vương tử tên là Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bảo Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hưởng Ý và Pháp Ý. Nghe vua cha xuất gia và thành đạo, tám con đều xuất gia theo, phát tâm Đại thừa tu hành thanh tịnh.

Lúc đó, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cũng như đức Phật Thích Ca bây giờ nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập chánh định Vô Lương Nghĩa Xứ…

Sau khi nhắc lại câu chuyện trên, Bồ Tát Văn Thù kết luận: Hôm nay đức Thích Ca ra điền lạ là cũng để nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa.

MẠN ĐÀM:

Phật nói kinh Pháp Hoa trước khi nhập diệt, môt chân lý tuyệt đối, cùng tận “Vô lượng nghĩa” không thể diễn đạt bằng ngôn từ mà nhập chánh định “Vô Lượng Nghĩa Xứ” và hiện ra chân cảnh để tứ chúng thấy biết.

Pháp vi diệu của kinh Pháp hoa là “huyền nghĩa”, cái nghĩa chân thật, tuyệt đối mà đức Phật Thích  Ca nhập chánh định “Vô lượng ng- hĩa xứ” và định ở đó.

Kinh Phật là một phương tiện diệu dụng để độ chúng sinh qua bờ giác, nhưng khi đã đến bờ thì cần phải rời bỏ phương tiện để lên bờ. Cái diệu dụng là phá chấp (chấp ngã và chấp pháp) để đạt ngộ, tức dùng phương tiện Phật pháp để đạt đến cứu cánh giải thoát.

Đức Phật Thích Ca nhập chánh dịnh” Vô lượng nghĩa” và định ở đó, nghĩa là tồn tại “sống” với Kinh như con người sống cần không khí để hô hấp và tiêu hóa, biến đổi thức ăn thành máu để nuôi cơ thể – Đó là huyền nghĩa của kinh Diệu Pháp Liên Hoa .

Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền viết trong sách “Pháp Hoa Huyền Nghĩa” như sau:

“Trước khi nói kinh Diệu Pháp, tức la truyền trao giáo pháp tột cùng, cái chân lý tuyệt đối, đức Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa, nhập chánh đinh Vô Lượng Nghĩa Xứ, rồi lại phóng quang hiện ảnh, ba điều mà xưa nay Phật chưa từng làm trước khi nói các kinh khác.

Tuyệt đối là vô cùng, vô cực, vô lượng. Phải hiểu thế nào là vô lượng “L’incommensurable). mới hiểu được thâm lý của Diệu Pháp. Đó là huyền nghĩa của Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa.

Hiểu được thế nào là Vô Lượng, nhưng chỉ hiểu sơ qua mà không sống mãi trong cái nghĩa Vô Lượng, cũng không được. Vì vậy, nói kinh rồi, Phật nhập vào “Vô  Lượng Nghĩa xứ” và định ở đó.

Hiểu nghĩa của cái “vô lượng”, định được trong cái “vô lượng” sẽ có một cái thấy lạ lùng, thông suốt từ cõi trời “Sắc cứu cánh” đến địa ngục A tỳ, tức thông suốt 3 cõi Duc giới, Sắc giới và Vô sắc giới, hay nói một cách khác, thấy rõ tất cả vũ trụ luôn hai mặt hữu hình và vô hình.

Thấy được như thế là thấy được cái thực tướng của chân cảnh, là thấy toàn thể pháp giới (vũ trụ hữu hình và vô hình) là một, một cái Một chân thật chớ không phải giả dối như cảnh Thế gian. Vì là Một cho nên cái Một ấy “bình đẳng” nghĩa là luôn luôn như vậy, không dời không đổi, không tăng không giảm ( L’Univers Unreel et identique à soi même = Nhất chân bình đẳng pháp giới}.

Theo cái thấy của chúng sanh thì có hai cảnh giới: Cảnh giới của chúng sanh và cảnh giới của chư Phật và Bồ tát, nói tóm là cảnh giới của thiện và cảnh giới của ác, cảnh giới của phiền trược và cảnh giới của giải thoát, cảnh giới của vô minh và cảnh giới của giác ngộ, cảnh giới của sanh tử biến dịch và cảnh giới của Niết bàn thường hằng.

Sự thật không phải thế: không có hai cảnh riêng biệt, và chúng sanh tuy sống trong “động loạn, căn trần, thức giới” vẫn cùng chư Phật, Bồ tát ở trong Một cái duy nhất, cái đó là “Phổ quang minh trí”.

“Động loạn, căn trần, thức giới” chỉ cảnh thế gian của chúng sanh, là thế giới hiện tượng của hiện tượng (monde manifeste’, monde des manifestation). Đã là hiện tượng thì phải động loạn (en movement, en perpe’tuel devenir). sanh ra, rồi tụ, rồi di, rồi diệt. Và cảnh ấy, thế giới ấy không phải là thế giới chân thật, mà là một thế giới do căn, trần và thức hổ trương chi phối mà thành có ( monde conditionne’ par les organs des sens, les objets des sens et la conscience)

Vạn vật trên Thế giới trăm sai ngàn biệt, nhưng không ngoài 6 loại:

-1/Loại có hình có tướng “sắc”. –

2/Loai tiếng “thanh”

-3/Loại mùi “hương”

-4/Loại vị “vị”

-5/Loại rờ đụng được “xúc”

-6/Loại nghĩ suy, quan niệm, khái niệm “pháp”.

Biết được có sáu loại “trần” ấy là nhờ chúng sanh có sáu khí cụ “căn” để thâu nhận: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Có trần mà không có căn, cũng như trong xứ có đài phát thanh mà nhà mình không có máy thu thanh.

Nhưng có phát thanh, có máy thâu thanh mà không có người ngồi vặn máy thâu thanh và nghe, thì hai cái trước dẫu có cũng như không. Vậy vạn vật trên Thế gian được biết là có, cái có ấy do ba điều kiện : Can, Trần và Thức tương quan chi phối, dung hòa mà thành. Nếu một  trong ba điều kiện ấy thiếu hoặc đổi tánh cách thì cái “có” kia cũng đổi theo. Thí dụ tất cả chúng sanh đều điếc hết thì chúng sanh sẽ bảo nhau rằng Thế giới nầy có 5 loại “trần” mà thôi. trong khi các thứ tiếng “âm” chưa hẵn là không có. Vậy quả Thế giới nầy không phải là Thế giới “chân thật” vì hể chân thật thì không từng điều kiện nào cả.

Thế giới chân thật là Thế giới của “Thể”, căn bản, nguồn cội của vạn vật, là luồn điện duy nhất và vô hình ứng hiện ra trong nhiều cái hữu hình khác nhau như đèn sáng, quạt máy, tủ lạnh.

Điện thì trước sau như một, chỉ có một tánh, hôm nay thế mà ngày mai cũng thế, không suy, không giảm. Còn đèn, quạt, tủ thì có mới, cũ, hư (sanh,dị, diệt).

Có thể lấy đènvà quạt thí dụ Phật và chúng sanh, một cái sáng,một cái không sáng. Nhưng trong hai cái sai khác đó, có một cái chung là điện. Vì vậy Phật và chúng sanh không khác nhau, không sai biệt, về mặt Thể, và Thể đó cũng gọi là Tâm – một danh từ tạm dùng vậy thôi. Bởi lẽ nầy, kinh Phật dạy: Tâm. Phật, chúng sanh, tam vô sai  biệt (Tâm, Phật và chúng sanh là ba, nhưng không sai khác nhau).

Chúng sanh lại “mù quáng” thấy có sự sai khác giữa chúng sanh và Phật, thấy có hạng thấp, hạng cao, cho nên lúc đầu thuyết giáo, Phật phải nương theo đó mà tạm nói có ba đường giải thoát: Thanh văn, duyên giác và Bồ tát. Nay phần đông các đệ tử đã tiến được nhiều, sự thật có thể phơi bày, Phật mới đem ra nói.

Nói mà vẫn còn ngại, cho nên phải trước nói Kinh Vô Lượng Nghĩa để chỉ rằng từ trước tới nay Phật mới đề cật cái “hữu lượng” (limite’), mà chưa nói đến cái “vô lượng” (l’illimite’, l’incommensurable) tức là chân lý tuyệt đối.

Biết được chân lý tuyệt đối rồi phải sống mãi “định” trong đó, ấy là nghĩa của việc nhập chánh định “Vô Lượng Nghĩa” như đã nói.

Vì chân lý tuyệt đối trước sau như một cho nên hai muôn đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều nói kinh Pháp Hoa và giáo pháp của các ngài đều lành như nhau. Nhật Nguyệt Đăng Minh là thí dụ cho trí tuệ đầy đủ của các bậc đã giác ngộ, nghĩa là đã trỏ về với nguồn Ánh sáng như đèn trời, đèn trăng sẵn có nơi mình…

Thêm vào việc nói kinh Vô Lượng  Nghĩa và nhập định vô lượng ng- hĩa. Phât còn phóng quang để cho  chúng sanh sáng mắt thấy ba cõi tuy khác nhau nhưng đều chung ở trong một nguồn ánh sáng, tượng trưng ở đây bằng luồn hào quang từ giữa đôi mày phóng ra, Nguồn ánh sáng ấy là “Thể”, là ‘Tâm”.

Do đấy mà có câu: “Nhất thể do Tâm tạo”

Võ Văn Bằng

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here