GIỚI – ĐỊNH – TUỆ

0
283

Ngọn đèn dầu để ra trước gió sẽ tắt, nếu có bóng đèn chụp lại sẽ tỏa ra ánh sáng và trông thấy được đồ vật xung quanh.

Thí dụ trên cho ta một khái niệm về giới, định và huệ: Giới như cái bóng đèn, che chở cho ngọn đèn không bị tắt khi ra trước gió. Định là ngon đèn đứng yên một chỗ và phát ra ánh sáng gọi huệ.

Ba danh tự trong ba lảnh vưc nêu trên liên quan với nhau một cách mãnh liệt nghĩa là có giữ giới sẽ được định và định được thì huệ sẽ phát ra. Ành sáng trí tuệ của con người cũng như vậy, khi tâm trí bình tỉnh sẽ giải quyết mọi việc được hạnh thông, trái lại khi tâm hồn bối rối, não loạn thỉ làm gì trật nấy nên dân gian có câu “no mất ngon, giận mất khôn”

Hiểu được giới luật của nhà Phật để bảo vệ tâm thức của con người khỏi bị đọa đầy, luân hồi sanh tử trong lục đạo là một điều tối ư quan trọng trong kiếp nhân sinh!

Lúc xưa, khi Đức Phật sắp nhập nhiệt, ngài A Nan buồn rầu thưa với Đức Phật:
“Bạch Thế Tôn, Ngài sắp lìa trẩn thế thì chúng con tu hành với ai đây!”.
Phật bảo:“Hãy lấy giới luật làm thầy”.

Sự thật, trong thời gian đầu thành lập tăng đoàn, dức Phật chưa thành lập giới luật nhưng vì có một chuyện nhỏ xẩy ra tại tu viện Trúc Lâm giữa một vị Kinh sư và một vị luật sư đã gây chia rẽ trầm trọng trong đại chúng. Nguyên nhân là vị Kinh sư đã vô ý không đổ nước
rửa chân vào chậu sau khi mình đã dùng hết, Vị luật sư cho đó là phạm luật. Hai bên đều có lý lẽ để bảo vệ tự ngã của mình. Sự kiện nầy đã lan ra đến đại chúng, họ chia làm hai phe để bênh vực cho “thầy của mình”. Sự tranh chấp mỗi ngày mỗi leo thang. Từ tiểu ngã của hai vị đến đại ngã của tu viện, bất phân thắng bại…Trong đó, một số khất sĩ không theo phe nào, lần mò đến tu viện cạnh bên để trình bày nội vụ lên đúc Phật, cầu ngài can thiệp.

Đức Phật đã đích thân đến găp hai vị Kinh sư và Luật sư và đã khuyên hai vị:

-Chúng ta không nên quá tin ở quan điểm của mình, chúng ta phải lắng nghe và tìm hiểu quan điểm của người bên kia, chúng ta phải tìm mọi cách để tránh sự gây chia rẽ trong đại chúng.

Những sự hòa giải của dức Phật không đạt được kết quả vì ngọn “sân si” lan rộng đến hai phe khất sĩ mỗi ngày mỗi trầm trọng.

Ngài A Nan thấy uy tín của giáo hội mỗi ngày mỗi sức mẻ nên một lần nữa ngài cung thỉnh Phật đến để giải hòa.

Đức Phật liền đến thính đương và bảo đại đức Nagita thỉnh chuông triệu tập đại chúng. Sau khi mọi người đến đông đủ, ngài bảo:

-Xin các thầy hãy chấn dứt về tranh chấp, cãi vã gây tình trạng chia  rẽ trong nội bộ giáo đoàn. Xin trở về với sự tu học, vì chỉ có sự tu học thực sự mới tránh khỏi tự ái, giận hờn và chia rẽ. Đức Phật vừa dứt lời thì một vị khất sĩ đứng dậy bạch:

“Thưa Thế Tôn, xin ngài đứng ra ngoài vụ tranh chấp nầy, đây không phải là việc của ngài, xin ngài hãy an định trong tịnh lạc. Chúng tôi đã lớn, chúng tôi có thể tự mình giải quyết vụ nầy được.

Vị khất sĩ vừa dứt lời, mọi người đều im lặng, Phật cũng im lặng. Không khí của hội trường trở nên nặng nề, ngột ngạc như chờ đợi hiện tượng bất thường xẩy đến…

Bỗng chốc đức Phật đứng dậy rời thính đường, lặng lẽ ra về. Một vị Phật tại thế đầy uy đức, một vị thầy của trời người và một bổn sư của chư tăng khất sĩ đã tôn trọng ý kiến phát biểu của một vị khất sĩ, không để cho họ bị khuất phục trước sức mạnh của trí tuệ và uy quyền của tập thể giáo hội. Tinh thần dân chủ nhân quyền của ngài đã thể hiện tột bực “to come to the top” trong đương thời đức Phật cách đây trên hai ngàn năm trăm năm và ngài đã đưa ra một thông diệp:

“Thiên thượng thiên hạ – Duy ngã độc tôn” (ngã: chơn ngã, tánh giác)

Sau khi trở về tịnh xá, ngài lấy bình bát và y ra đi một mình về phía Balakalona Karagama. Tại  đây ngài gặp vị đệ tử là đại đức- Bhagu. Đại đức vui mừng rước  Phật về Cốc trong một khu rừng để Phật nghỉ ngơi. Sau khi đại đức lấy nước và khăn cho Phật rữa chân tay và mặt, Phật liền hỏi thăm về sự tu học của thầy Bhagu. Thầy nói thầy rât an lạc mặc dầu ở một mình.

Phật nói: Ở một mình đôi khi lại khõe hơn ở cả đông người. Rồi Phật giảng dạy thêm giáo lý và khuyến khích thầy trong việc tu hành sau khi Phật từ giả.

Đức Phật tiến bước về phía công vien Đông Trúc, vừa mới đến cổng thì gặp đại đức Anurudda đi ra. Đại đức vui mừng vái chào Phật và nói với người cai quản trong vườn: -Đây là vị bổn sư của chúng tôi.

Đại đức Anurudda rước Phật vào công viên. Tại đây Phật gặp thêm  hai vị đệ tử nữa là đại đức Nandi- ya và đại đức Kimbila. Hai người  mừng rỡ cung kỉnh đảnh lể đức Phật, rồi người nâng bát, kẻ nâng áo cho Phật và hướng dẫn Phật vào một chỗ ngồi trang trọng bên khóm trúc vàng. Họ mang nước và khăn tới cho Phật rữa mặt và chân.. Xong xuôi, Phật bảo ba người ngồi bên xuống bên cạnh.

Cũng như lần gặp đại đức Bhagu, đức Phật hỏi thăm về nơi ăn chốn ở và sự tu học có thuận lợi không? Thầy Anuruddha đáp:

-Bạch Thế Tôn, chúng con ở đây rất an tịnh, việc khất thực và hành hóa cũng thuận lợi. Chúng con ăn ở với nhau rất thuận hòa và thương mến nhau. Riêng con, con rất quí  trọng hai huynh Kimliba và Nan- tiya và luôn luôn giữ lời nói, việc  làm để tránh sự phật ý của hai vị.. Đức Phật tỏ vẻ hài lòng và nhìn qua hai vị kia.

Thầy Kimbila thưa: -Điều sư huynh nói, Anuruddha nói là đúng sự thật, chúng con xem nhau như anh em ruột thịt.

Thầy Nandtiya bạch: -Chúng con cùng chia xẻ đồng đều cho nhau mọi thứ từ chỗ ăn, chỗ ở cho đến kiến thức và kinh nghiệm.

Đức Phật khen:

-Tốt lắm! và tỏ vẻ hài lòng khi thấy các thầy ăn ở với nhau hòa hợp, xứng đáng là một đoàn thể tu học trong chánh niệm. Đức Phật còn ở lại với ba thầy một tháng để thấy tận mắt lối tu học và hành hoạt của các thầy để sau đó ngài minh định sự hòa hợp qua sáu điều gọi lả:

LỤC HÒA:

1-Thân hòa đồng trú:

Cùng chia xẻ với nhau nơii ở (nhà, chùa, tu viện, trung tâm tu học, khu rừng, đất đai)

2-Lợi hòa đồng quân:

Cùng chia xẻ với nhau đồng đều những tiện nghi của cuộc sống

3-Giới hòa đồng tu:

Cùng hành trì với nhau những giói luật đã được truyền thừa và ban hành.

4- Khẩu hòa vô tránh.

Xử dụng thứ ngôn từ hòa hợp. tránh những lời nói vô bổ, gây tổn thương đến cá nhân, đoàn thể

5- Kiến hòa đồng giãi

Cùng trao đổi và chia xẻ với nhau  những điều hiểu biết qua kinh ng- hiệm, sách vở và kiến thức trí tuệ.

6- Ý hòa đồng duyệt:

Các ý kiến khác nhau phải tổng hợp lại để cùng nhau duyệt xét.

Đức Phật đã thành lập 6 điều “Lục Hòa” căn bản để đem lại sư an lạc và tinh tấn trong sự sinh hoạt của tăng đoàn đầu tiên nói trên.

Về sau, khi tăng đoàn phát triển đông đảo, đầy đủ tứ chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di}, Đức Phật đặt ra giới luật dựa vào nguyên tắc “lấy những điều sai sót của đại chúng để tạo ra giới luật” có nghĩa là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”:

Về giới tu sĩ gồm 250 giới cho Tỳ kheo và 348 giới cho Tỳ Kheo Ni. Ngoài ra các tăng, ni còn thực hành Bồ Tác giới, tụng giới trong mỗi nữa tháng và tự nói lên những sự sai sót của mình trong việc giữ giới hạnh.

Riêng đối với cư sĩ “tu tại gia” giữ tam qui, ngũ giới, bát quan trai giới, bồ Tát giới, Nội dung các giới ấy như buộc chặt các giác quan không để cung cấp và quyến rũ tâm đi vào đường sa đọa.

Giới luật nhà Phật không phải là những “giáo điều” đặt ra để bắt buộc mọi người phải theo mà do  sự tự nguyện, thích hợp với căn cơ, hoàn cảnh của mọi người.

Giới luật đồng hành với Phật pháp, nên có tính linh hoạt để thích hợp với khế cơ và khế lý. Sát và tự sát là một giới cấm trong đạo Phật, tuy nhiên các vị tu theo hạnh Bồ Tát có thể thực hiên hy sinh thân mạng, đốt lên ngọn lửa từ bi như Bồ Tát Thích Quảng Đức tại ngã tư đường Phan Đinh Phùng và Lê Văn Duyệt thuộc quân ba thành phố Sai Gòn vào năm 1963 để bảo vệ Đạo Pháp.

Theo giới luật của Đức Phật thì việc hủy hoại làm tổn thương thân thể hay đày đọa thân xác là điều Đức Phật không cho phép vì hủy hoại thân xác tức là tự sát, phạm đến giới luật, đi ngược lại giáo lý của đức Phật về các phương diện ngăn trở ước muốn giải thoát, bỏ mất cơ hội làm người…Tư sát ở đây có nghĩa vô minh, bi quan yếm thế, bất lực…

Tuy nhiên, một vị tỳ kheo lấy công phu tu trì, chuyên tịnh thiền định để nhiếp phục được tâm tham, sân, si, biết rõ đường đi của nhân quả và biết rõ sau khi xả bỏ báo thân nầy sẽ tiếp tục sinh thân khác thì không phạm tội giới luật.

Trong thời đức Phật, có ba vị tỳ kheo tự sát: Tỳ kheo Xiễn Đà “Channa’, Tỳ kheo Bạt Ca Lê “Vakhali” và tỳ kheo Cu Đê Ca “Godhika”. Theo kinh, cả ba vị Tỳ kheo đều là những vị tu sĩ thuộc hàng trưởng lão, chuyên cần, tinh tấn, thiền định và đều tự sát để kết liễu thân mạng với “tâm vô trụ”, với “thức vô ngại” và vì thế, theo lời Phật dạy, không phạm giới và đã vào Niết Bàn.

VÕ VĂN BẰNG

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here