THƠ THIỀN: THIỀN SƯ MÃN GIÁC “1062-1096

0
41
Hình inh họa - Thền sư Mãn Giác

Thiền Sư Mãn Giác “1062-1096”
Thiền sư Mãn Giác với thơ thiền xuất hiện từ đời nhà Lý. Ngài cảm tác bài thơ ”không có đề tên” sau đây:

“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu chủng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Ngô Tất Tố dịch:

Xuân ruỗi trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.

Thiền cũng như thơ thiền, không có đối tượng nên không lý luận. giải thích, ai tu nấy chứng, ai làm nấy biết.

Chuyện “thằng Bờm” và “Phú Ông” là một truyền thuyết trong dân gian, nói lên hiện tại “Thằng Bờm” đang đói bụng, chỉ cẩn một  nắm xôi là thỏa mãn trong khi Phú Ông muốn đổi lấy cái quạt mo của nó bằng ba bò, chín trâu, bằng những thứ quí giá khác không hợp
thực tế và tâm sinh lý bình thường của con người, của Bờm.

Phần nhiều cái thấy biết của trẻ con và dân dã không qua suy luận, thấy sao nói vậy nên gần với sự thật… Bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” là một bài thơ thiền của giới bình dân:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi
bùn”.

Cái thấy của tự nhiên, cái thấy của nhân quả trùng phùng { hột sen trong đóa sen ) có nghĩa giải thoát…

Vua Trần Nhân Tông “1279-1293” là một ông vua sống trọn vẹn về “Đời” và “Đạo”. Ông đã ba lần đánh đuỗi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi và ban giao tốt đẹp với nước Chiêm Thành ở phía Nam. Ông đã gã con gái là HuyềnTrân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy Châu Ô và Châu Rí tức là tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay.

Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho
con là Trần Anh Tông, lên núi Yên Tử xuất gia đầu Phật và lập nên dòng Thiền “Trúc Lâm Yên Tử” năm 1299.

Ngài đã làm một bài thơ thiền với nhan đề “Cư trần lạc đạo” để nói lên tinh thần của phái Thiền “Trúc Lâm Yên Tử”:

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo lưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Ngô Tất Tố dịch:

“Ở đời vui đạo thả tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Của báu trong nhà thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.

Vô tâm là tâm không bị nhiễm, là tâm không gặp chướng ngại, nên không sợ hãi, không còn mộng tưởng điên đảo, đạt đến Niết Bàn rốt ráo theo nghĩa của “Bát nhã tâm kinh”.

Thiền có nhiều môn phái nhưng chung quy lấy “Định” làm căn bản tu hành.

Mặt nước hồ về mùa thu thì bằng phẳng và trong sáng, phản chiếu bầu trời trong xanh, cánh nhạn bay qua không để lại dấu vết.

“Đôi cảnh vô tâm” có thể hiểu qua
bài thơ “Nhạn và Bóng “:
Cánh nhạn bay qua cõi không
Bóng chìm dòng nước lạnh cảm
Nhạn nào có ý tưởng bay
Hồn nhiên nước chảy vô tâm.

Tính chất của nước là trong sáng và dễ hòa tan với các chất khác, cũng như tâm của con người, nguyên thủy của nó là trong sáng như tấm gương nhưng dần bị bụi bám lu mờ. Tu có nghĩa là lau chùi hằng ngày hằng giờ cái tâm gương đó như câu kệ của ngài Thần Tú:
“Thân như cây Bồ Đề
Tâm như đài gương sáng
Phải luôn lau chùi sạch
Chớ để bụi bậm bán .

Thiền Sư Từ Đạo Hạnh là một danh sư có công lớn đối với triều đình nhà Lý “1072-1127”. Hiên nay đền thờ của ngài còn lại trong khuôn viên chùa Thiện Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai , tỉnh Hà Tây…Thiền sư đã để lại một bài thơ thiền nổi tiếng với bản dịch ra quốc ngữ:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian nầy cũng không
Kìa xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có, có không là gí?”

Mảy may là vật nhỏ nhất như hạt bụi nhưng hạt bụi củng đi từ đại địa mà ra. Cho nên sự có mặt của vạn vật đều nằm trong định luật “Một là tất cả tất cả là một”.

Đời người ngắn ngủi, không đủ sống để thấy được sự biến đổi của trời đất như các nhà khảo cỗ đã nói: ‘Bãi biển biến thành nương dâu”
(Thương hải biến vi tang điền”. Từ nhân sinh đến vũ trụ đều bị chi phối theo luật “Vô thường Vô ngã”. Đó là điều xác minh của Phật Giáo: “Sinh, Trụ,Hoại, Không”.

Sau đây là câu chuyện về thơ Thiền
“ Bác phong suy bất đông” của Tô Đông Pha:
“Một hôm Tô Đông Pha “người Trung Hoa” làm một bài thơ thiền, ông ta lấy làm đắc ý liền cho người mang đến tặng thiền sư Phật Ấn.

Nguyên văn bài thơ như sau:

“Khả thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong suy bất đông
Đoan tọa tử kim liên”.

Dịch:

Đảnh lễ bậc giác ngộ
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng.

Thiền sư Phật Ấn xem xong chẳng nói gì liền phê vào hai chữ “Phóng thí” (đánh rấm) và cho người đem về trình lại với họ Tô.

Đúng như dự đoán, Tô Đông Pha xem xong, nổi giận đùng đùng liền đích thân đến hỏi Thiền Sư Phật Ấn cho ra lẽ.

Vừa gặp mặt, Tô Đông Pha lớn tiếng trách: “Bài thơ của tôi sai sót chỗ nào mà ngài lại phê phán hai chữ “Trung tiện” kia!

Thiền sư Phật Ấn cười ha hả và nói: “Thiền là tám gió thổi không động mà chỉ một cái “trung tiện” mà phải bay qua đây rồi ! Nghe xong, Tô Đông Pha chợt ngô!.

Chú thích : Bát phong suy bất đông nghĩa là tám ngọn gió thổi mà không lay động, đó là:
-1/Lợi (lợi lộc)- 2/Suy (hao tổn)- 3/Hủy (chê bai, chỉ trích)-4/Dự (gián tiếp khen ngôi)-5/Xưng (trục tiếp khen ngợi)-6/Cơ (dựng chuyện nói xấu)-7/ Khổ (gặp chướng
duyên)-8/Lạc(gặp (thuận duyên)
VÕ VĂN BẰNG

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here